Hỏi đáp trực tuyến

Lên phía trên
Điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần
Câu hỏi:

Bạn Nguyễn Văn Hợp hỏi: Tôi muốn hỏi đóng BHXH bao lâu thì được rút tiền bảo hiểm khi nghỉ việc?

Trả lời:
Trả lời: Điều 60, Luật BHXH năm 2014 quy định như sau:
 
1. Người lao động (NLĐ) quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Luật này mà có yêu cầu thì được hưởng BHXH một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 54 của luật này mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH và không tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện;
b) Ra nước ngoài định cư;
c) Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế;
d) Trường hợp NLĐ quy định tại Điểm d và Điểm e Khoản 1 Điều 2 của Luật này khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu.
2. Mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm được tính như sau:
a) 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng trước năm 2014;
b) 02 tháng mức bình quân tiền lương đóng BHXH cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi;
c) Trường hợp thời gian đóng BHXH chưa đủ một năm thì mức hưởng BHXH bằng số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương đóng BHXH.
3. Mức hưởng BHXH một lần thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này không bao gồm số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện, trừ trường hợp quy định tại Điểm c khoản 1 Điều này.
4. Thời điểm tính hưởng BHXH một lần là thời điểm ghi trong quyết định của cơ quan BHXH.
 
                                                                                                Đức Thành
Lên phía trên
Muốn nghỉ hưu sớm phải đáp ứng điều kiện gì?
Câu hỏi:

Bạn đọc có số điện thoại 0932221xxx gọi đến đường dây nóng của Văn phòng TVPL Báo Lao Động hỏi về chế độ nghỉ hưu sớm?

Trả lời:
Văn phòng TVPL Báo Lao Động trả lời: Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội quy định về điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động:
1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 54 của Luật này nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động. Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên;
b) Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
c) Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành.
2. Người lao động quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 54 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi trở lên; 
b) Có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành.

Theo Báo Lao động
Lên phía trên
Sau hai lần ký HĐLĐ có thời hạn, lần 3 phải ký HĐLĐ thế nào?
Câu hỏi:

Bạn M.T - Email: minhthinhpt12@xxx trình bày: Đơn vị tôi công tác do UBND thị xã thành lập, là đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc UBND thị xã. Chức năng, nhiệm vụ được UBND thị xã giao gồm: Quản lý, vận hành Nhà máy xử lý rác thải, các dịch vụ đô thị như: quét, thu gom, vận chuyển rác đường phố; chăm sóc cây xanh, thảm cỏ, duy trì cây trang trí, cây đường viền; điện chiếu sáng; thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt trong dân cư; quản lý nghĩa trang nhân dân.
Bộ phận nhân viên văn phòng của đơn vị tôi làm theo chế độ hợp đồng lao động, có trình độ cao đẳng, đại học...xếp lương theo hệ số. Tôi đã ký hợp đồng xác định thời hạn là 01 năm, từ năm 2015 đến năm 2016 đã ký kết hợp đồng 2 lần với phó trưởng Ban. Đến ngày 30.12.2016 có phó trưởng ban phụ trách mới được UBND thị xã bổ nhiệm về; ông phó trưởng ban phụ trách mới lại ký hợp đồng lần 3 cho tôi là hợp đồng có xác định thời hạn là 1 năm; tôi đã giải thích ký kết hợp đồng như vậy là sai quy định với điều 22 của Bộ Luật lao động sửa đổi năm 2012. Việc ký hợp đồng lao động với tôi như vậy có đúng?

Trả lời:
Sau hai lần ký HĐLĐ có thời hạn, nếu NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký HĐLĐ không xác định thời hạn.
Luật sư Phạm Thị Thúy Kiều - Văn phòng Luật sư số 6, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội trả lời: Điều 22 Bộ luật lao động 2012 quy định:
1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;
Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.
c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.
Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Do đó, giải thích của bạn với vị Phó trưởng ban là đúng. Trường hợp ông Phó trưởng ban yêu cầu bạn ký hợp đồng không đúng quy định pháp luật, bạn có thể làm đơn khiếu nại tới UBND thị xã, phòng LĐTB&XH thị xã, yêu cầu can thiệp giải quyết bảo vệ quyền lợi của bạn.
 
Lên phía trên
Về hưu trước năm 2018 hay đúng tuổi thì lợi hơn?
Câu hỏi:

Bạn N.A.N - Email: ngocanh20289@xxx hỏi: Mẹ của tôi là giáo viên đã tham gia BHXH từ năm 1996. Đến năm 2020 thì bà đủ tuổi về hưu. Bà đang phân vân có nên về hưu trước tuổi tức là năm 2018 hay không. Với trường hợp như mẹ tôi thì về hưu đúng tuổi hay về sớm trước 2 năm có lợi hơn?

Trả lời:
     Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động được nghỉ hưu trước tuổi khi bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

    Luật sư Phạm Thị Thúy Kiều - Văn phòng Luật sư số 6, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội trả lời: Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động được nghỉ hưu trước tuổi khi bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên. Đến năm 2018, mẹ bạn đủ điều kiện về tuổi (48 tuổi đối với nữ vào năm 2018), và cần phải chứng minh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên bằng các tài liệu giám định y tế để đủ điều kiện được hưởng lương hưu.
   
Mức lương của người nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động hưởng mức thấp hơn so với người nghỉ hưu đủ điều kiện bình thường. 
Cụ thể:
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm xã hội như sau:

a) Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;

b) Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm.

Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản này được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.
Mức lương hưu hằng tháng của người lao động nghỉ hưu do suy giảm sức khỏe được tính như quy định trên, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.
Theo quy định trên, nếu mẹ bạn nghỉ hưu đúng tuổi vào năm 2020 sẽ có 24 năm đóng bảo hiểm,  được hưởng mức lương = 45% + (24-15)x2% = 63% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.
Nếu mẹ bạn đủ điều kiện nghỉ hưu trước tuổi vào năm 2018, sẽ có 22 năm đóng bảo hiểm,  và nghỉ hưu trước 2 tuổi, được hưởng mức lương = 45% + (22-15)x2% - 2x2% = 55% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.
Như vậy, nếu mẹ bạn nghỉ hưu trước tuổi sẽ hưởng mức lương thấp hơn gần 10% so với nghỉ đúng tuổi, chưa kể 2 năm nghỉ trước tuổi, nếu mẹ bạn vẫn đi làm thì được hưởng 100% lương hiện tại. Mẹ bạn và gia đình có thể tham khảo để cân nhắc đưa ra quyết định. 


Lên phía trên
Đóng BHXH bao lâu thì được hưởng chế độ thai sản?
Câu hỏi:

Bạn đọc có số điện thoại 01298697xxx gọi đến số đường dây nóng của Văn phòng TVPL Báo Lao Động hỏi: Đến khi nghỉ việc vào tháng 5.2016, vợ tôi đóng BHXH được 9 tháng. Dự kiến tháng 4.2017, vợ tôi sẽ sinh con. Vợ tôi có được hưởng chế độ thai sản không?

Trả lời:

Điều 31 Luật BHXH quy định lao động nữ đóng BHXH đủ 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh con thì đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản

    Văn phòng TVPL Báo Lao Động trả lời: Điều 31 Luật BHXH quy định lao động nữ đóng BHXH đủ 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh con. Nếu tháng 4.2017 vợ bạn sinh thì tính ngược lại tháng 4.2016, trong vòng thời gian đó vợ bạn đóng BHXH đủ 6 tháng thì được hưởng chế độ thai sản.

     Tuy nhiên, tháng 5.2016 vợ bạn đã nghỉ việc và từ đó không tham gia BHXH ở đâu nữa, như vậy vợ bạn mới tham gia BHXH được 2 tháng (tháng 4 và 5.2016). Do đó, vợ bạn không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.

Theo Báo Lao động

Lên phía trên
Những trường hợp nào không được hưởng BHYT?
Câu hỏi:

Ông Triệu Văn Tâm (xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái hỏi): Tại Cty, tôi có tham gia BHXH, BHYT. Tuy nhiên tôi chưa nắm rõ những trường hợp nào không được hưởng BHYT. Vậy xin cơ quan bảo hiểm cho biết cụ thể?

Trả lời:
BHXH tỉnh Yên Bái trả lời:
     - Theo quy định tại Điều 23 của Luật BHYT số 25/2008/QH12 ngày 14.11.2008 quy định các trường hợp sau đây không được hưởng BHYT: 1. Chi phí trong trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 21 Luật BHYT năm 2008 đã được ngân sách nhà nước chi trả. 2. Điều dưỡng, an dưỡng tại cơ sở điều dưỡng, an dưỡng. 3. Khám sức khỏe. 
     4. Xét nghiệm, chẩn đoán thai không nhằm mục đích điều trị. 5. Sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, nạo hút thai, phá thai, trừ trường hợp phải đình chỉ thai nghén do nguyên nhân bệnh lý của thai nhi hay của sản phụ. 6. Sử dụng dịch vụ thẩm mỹ. 
     7. Điều trị lác, cận thị và tật khúc xạ của mắt. 8. Sử dụng vật tư y tế thay thế bao gồm chân tay giả, mắt giả, răng giả, kính mắt, máy trợ thính, phương tiện trợ giúp vận động trong khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng. 9. Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng đối với bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, thảm họa. 
     10. Khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp tự tử, tự gây thương tích. 11. Khám bệnh, chữa bệnh nghiện ma túy, nghiện rượu hoặc chất gây nghiện khác. 12. Khám bệnh, chữa bệnh tổn thương về thể chất, tinh thần do hành vi vi phạm pháp luật của người đó gây ra. 13. Giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. 14. Tham gia thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu khoa học.



Theo Báo Lao động
Lên phía trên
Theo quy định của Bộ luật lao động, thời gian thử việc tối đa không quá 60 ngày.
Câu hỏi:

Bạn đọc có địa chỉ FB: L.N.T hỏi: Tôi làm cho công ty đến nay được 4 tháng rồi vẫn chưa có HĐLĐ, chỉ có hợp đồng thử việc. Tôi nghỉ 1 ngày không phép bị trừ 200 nghìn đồng/ngày. Trong khi đó tôi làm ăn theo sản phẩm không có phụ cấp. Làm đủ 1 tháng cũng không cho thêm tiền chuyên cần. Cty làm vậy đúng hay sai? Tôi phải làm thế nào?

Trả lời:
Luật sư Phạm Thị Thúy Kiều - Văn phòng Luật sư số 6, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội trả lời:
Điều 27 BLLĐ 2012 quy định: Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:
1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.
Điều 101 BLLĐ 2012 quy định về khấu trừ tiền lương tiền lương như sau:
 1. Người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị của người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 130 của Bộ luật này.
2. Người lao động có quyền được biết lý do khấu trừ tiền lương của mình.
3. Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá 30% tiền lương hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập.
Pháp luật lao động nghiêm cấm việc phạt tiền, cắt lương thay cho xử lý kỷ luật lao động là bị cấm. Như vậy, công ty bạn đã có nhiều hành vi vi phạm các quy định của Bộ luật lao động. Bạn có thể gửi đơn đến Phòng LĐTB vã XH quận, huyện nơi Cty đặt trụ sở để khiếu nại.



Theo Báo Lao động
Lên phía trên
Tháng nào được nghỉ hưu khi đủ tuổi?
Câu hỏi:

Bạn đọc số 0913106XXX gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559 hỏi: Tôi là nữ bác sĩ đang làm việc tại một bệnh viện. Tôi sinh ngày 3.2.1962, đến 3.2.2017 là đủ 55 tuổi, nhưng mới chỉ tham gia BHXH được 19 năm. Bệnh viện có quyền chấm dứt HĐLĐ với tôi không? Tháng nghỉ hưu là tháng nào khi đủ tuổi?

Trả lời:
Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Khoản 4, điều 36 BLLĐ quy định HĐLĐ chấm dứt khi NLĐ đủ độ tuổi và đủ số năm đóng BHXH để hưởng lương hưu. Về độ tuổi của NLĐ để nghỉ hưởng lương hưu với nữ là 55 (điều kiện bình thường) và số năm tối thiểu đóng BHXH trong điều kiện bình thường là 20 năm. Do bạn mới có 19 năm đóng BHXH nên xét theo quy định trên chưa đủ điều kiện để bệnh viện chấm dứt HĐLĐ với bạn. Tuy nhiên, do quy định trên còn có nhiều quan điểm khác nhau và gây khó cho DN, nên đang được Bộ LĐTBXH dự thảo sửa trong thời gian tới. Trường hợp này, hai bên nên thoả thuận chấm dứt HĐLĐ. 
Điều 18 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định và hướng dẫn chi tiết một số điều về BHXH bắt buộc quy định về thời điểm hưởng lương hưu như sau: Thời điểm đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu là ngày 01 tháng liền kề sau tháng sinh của năm mà NLĐ đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu. Trường hợp tháng sinh là tháng 12 thì thời điểm đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu là ngày 01 của tháng 01 năm liền kề sau năm mà NLĐ đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu. Do đó, nếu bạn sinh tháng 2, thì tháng bắt đầu được nghỉ để tính hưởng lương hưu khi đủ điều kiện sẽ là tháng 3.


Theo Báo Lao động
Lên phía trên
Bị TNLĐ đã hai năm, có được nhận chế độ?
Câu hỏi:

Bạn đọc số 00984791XXX gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559 hỏi: Cơ quan tôi có trường hợp được cử đi viếng đám ma gia đình một đồng nghiệp từ 2 năm trước. Trên đường đi viếng đám ma thì xảy ra TNGT. Sau đó, cơ quan đã làm các thủ tục giám định tỉ lệ thương tật cho người này. Người này có được hưởng chế độ TNLĐ không?

Trả lời:
Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Khoản 1, Điều 5, Thông tư 04/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện chế độ bồi thường, trợ cấp và chi phí y tế của NSDLĐ đối với NLĐ bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp quy định về bồi thường, trợ cấp trong những trường hợp đặc thù như sau: Trường hợp NLĐ bị tai nạn khi thực hiện nhiệm vụ hoặc tuân theo sự điều hành hợp pháp của NSDLĐ ở ngoài phạm vi cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, nếu do lỗi của người khác (không phải là bản thân NLĐ bị tai nạn) gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn, thì NSDLĐ vẫn phải bồi thường cho NLĐ theo quy định tại Điều 3 Thông tư này.
Hiện không có quy định nào về việc trong thời gian bao lâu kể từ thời điểm xảy ra TNLĐ sẽ phải khai báo lên cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết chế độ. Chỉ có quy định về trách nhiệm của cơ quan BHXH giải quyết chế độ cho NLĐ sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ. Qua tham khảo ý kiến của cơ quan BHXH TPHCM thì được biết, khi xảy ra TNLĐ, cơ quan vẫn phải làm hồ sơ cho NLĐ hưởng chế độ kèm theo văn bản giải trình vì lý do chậm nộp hồ sơ. Bạn nên có văn bản hỏi cơ quan BHXH để được trả lời cụ thể. 




Theo Báo Lao động
Lên phía trên
Chế độ tai nạn lao động
Câu hỏi:

Bạn đọc số 01635012XXX từ tỉnh N gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559 hỏi: Tôi bị TNGT trên đường đi làm về, sau khi điều trị ổn định vết thương đã được giám định suy giảm khả năng lao động 31%. Công an xã nơi xảy ra vụ TNGT đã có xác nhận về vụ việc. Sau đó, Cty tôi đã làm các thủ tục cho tôi hưởng chế độ TNLĐ do TNGT. Tuy nhiên, cơ quan BHXH tỉnh N yêu cầu phải có Biên bản điều tra TNGT mới chi trả chế độ TNLĐ cho tôi. BHXH tỉnh N đòi hỏi vậy có đúng không?

Trả lời:
Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Khoản 5, Điều 35 Luật An toàn – Vệ sinh Lao động có hiệu lực từ 1.7.2016, quy định: Người sử dụng lao động và các cá nhân liên quan đến tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng phải có nghĩa vụ hợp tác với Đoàn điều tra, cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu có liên quan và không được từ chối hoặc cản trở quá trình điều tra.
Trường hợp tai nạn trên đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm cung cấp cho Đoàn điều tra một trong các giấy tờ sau đây: a) Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn; b) Biên bản điều tra tai nạn giao thông; c) Trường hợp không có các giấy tờ quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì phải có văn bản xác nhận bị tai nạn của cơ quan Công an xã, phường, thị trấn nơi xảy ra tai nạn theo đề nghị của NLĐ hoặc thân nhân của NLĐ.
Điều 92 Luật Vệ sinh –An toàn lao động quy định: Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2016. Các quy định về bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp tại Mục 3 Chương III, khoản 4 Điều 84, điểm b, khoản 1 và điểm a, khoản 2 Điều 86, các điều 104, 105, 106, 107, 116 và 117 của Luật BHXH số 58/2014/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Do đó, bạn chỉ cần có văn bản xác nhận bị tai nạn của cơ quan Công an xã, phường, thị trấn nơi xảy ra tai nạn là đủ điều kiện hưởng chế độ TNLĐ. Việc cơ quan BHXH tỉnh N yêu cầu bạn phải có Biên bản điều tra TNGT là không cần thiết. Bạn có thể khiếu nại hoặc khởi kiện BHXH tỉnh N để được bảo đảm quyền lợi. 


Theo Báo Lao động
Lên phía trên
Quyền lợi Bảo hiểm xã hội
Câu hỏi:

Bạn Nông Lương An hỏi: Mẹ tôi là cán bộ xã không chuyên trách, đóng BHXH từ năm 2002, đến tháng 10/2014 thì nghỉ hưu; thời gian đóng BHXH là 13 năm 5 tháng. Vậy mẹ tôi có được đóng BHXH một lần cho đủ 15 năm để hưởng lương hưu không?

Trả lời:
     Căn cứ quy định tại khoản 3, Điều 54 Luật BHXH thì lao động nữ là người lao động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH và đủ 55 tuổi thì được hưởng lương hưu. Như vậy trường hợp của mẹ bạn nghỉ việc do hết tuổi lao động, đóng BHXH được 13 năm 5 tháng thì không đủ điều kiện để hưởng lương hưu.
     Pháp luật về BHXH hiện hành không có quy định về  việc đóng BHXH một lần cho đủ 15 năm để hưởng lương hưu.
     Căn cứ quy định tại Điểm e, khoản 1, Điều 9 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện, trường hợp của mẹ bạn đủ 55 tuổi, đóng BHXH được 13 năm 5 tháng, nếu có nguyện vọng thì được đóng BHXH tự nguyện một lần đối với thời gian còn thiếu cho đủ 20 năm để hưởng lương hưu.
     Đề nghị bạn liên hệ với cơ quan BHXH địa phương để được hướng dẫn cụ thể.

                                                                                                                        Đức Thành
Lên phía trên
Làm thêm vào ngày chủ nhật
Câu hỏi:

Bạn Lưu Thuý Hà hỏi: Khi doanh nghiệp tổ chức làm thêm vào chủ nhật, thì sau đó sẽ phải cho công nhân nghỉ bù có đúng không? Nếu không thì cách tính lương ngày chủ nhật, ngày nghỉ bù thế nào?Nếu đúng thì xếp lịch nghỉ bù thế nào?Có bắt buộc phải xếp ngày nghỉ bù vào thứ hai liền kề không?

Trả lời:
     Điều 110 Bộ Luật Lao động quy định "Mỗi tuần, người lao động (NLĐ) được nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục. Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể nghỉ hằng tuần, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm cho NLĐ được nghỉ tính bình quân một tháng ít nhất 4 ngày.
     Người sử dụng lao động có quyền quyết định sắp xếp ngày nghỉ hằng tuần vào ngày Chủ nhật hoặc một ngày cố định khác trong tuần, nhưng phải ghi vào nội quy lao động".
Điểm c, khoản 2, Điều 106 Bộ Luật Lao động quy định: "Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dung lao động phải bố trí để NLĐ được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ".
     Theo điểm a, khoản 3, Điều 4 Nghị định 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động thì "Sau mỗi đợt làm thêm tối đa 7 ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để NLĐ nghỉ bù số thời gian đã không được nghỉ".
     Theo nội dung bạn hỏi, công ty có ngày nghỉ hằng tuần là ngày chủ nhật. Khi tổ chức làm thêm vào ngày chủ nhật thì sẽ có các trường hợp sau:
     - Nếu công ty tổ chức làm thêm tối đa 7 ngày liên tục, trong đó có ngày chủ nhật thì trường hợp này công ty phải bố trí cho NLĐ nghỉ bù ngày chủ nhật đã không được nghỉ sau đợt làm thêm.
    Công ty phải trả lương làm thêm giờ theo quy định tại Điều 97 Bộ luật Lao động cho thời gian làm thêm vào ngày chủ nhật; không phải trả lương ngày nghỉ bù ngày chủ nhật (vì ngày nghỉ hằng tuần là ngày nghỉ không hưởng lương).
    - Nếu công ty chỉ tổ chức làm thêm vào ngày chủ nhật, không tổ chức làm thêm nhiều ngày liên tục trong tháng thì trường hợp này công ty phải trả lương làm thêm giờ theo quy định tại Điều 97 Bộ luật Lao động đối với ngày chủ nhật; pháp luật hiện hành không quy định nghỉ bù trong trường hợp này.                                                                                              
                                         
                                                                                                                                                                                            Đức Thành

Lên phía trên
Trợ cấp thôi việc
Câu hỏi:

Xin hỏi có phải theo Bộ luật Lao động 2012 thì người lao động (đã làm việc từ 12 tháng trở lên) khi nghỉ việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã thì được hưởng cả trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc có đúng không? Trong trường hợp này quy định của luật lao động hiện hành có cho phép hưởng cả trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc không?

Trả lời:

Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2012 có quy định về trợ cấp thôi việc như sau:
     “1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
     2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

     3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

     Căn cứ vào quy định nói trên, đối với những người lao động làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, nếu bị chấm dứt hợp đồng lao động vì các lý do được nêu tại khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9, 10 Điều 36 thì người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động.
     Theo như bạn trình bày, bạn muốn hỏi về trường hợp người lao động bị chấm dứt hợp đồng theo khoản 10 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012.

     Khoản 10 Điều 36 Bộ luật Lao động 2012 có quy định như sau: “Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã”. Như vậy, theo quy định này, hợp đồng lao động được chấm dứt trong hai trường hợp sau: thứ nhất là trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 Bộ luật lao động 2012, thứ hai là trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách, doanh nghiệp, hợp tác xã.

     Đối với trường hợp thứ nhất, khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Lao động 2012 thì người sử dụng lao động chỉ phải trả cho người lao động trợ cấp thôi việc theo quy định của Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2012.

     Đối với trường hợp thứ hai, trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách, doanh nghiệp, hợp tác xã, người sử dụng lao động phải tuân thủ các nghĩa vụ của pháp luật tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật Lao động năm 2012.
    
Theo đó, Điều 44 và Điều 45 Bộ luật Lao động năm 2012 có nội dung cụ thể như sau:

“Điều 44. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

     1. Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.

     Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

     2. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

     Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

     3. Việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

Điều 45. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã

     1. Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục sử dụng số lao động hiện có và tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

     Trong trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có, thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

     2. Trong trường hợp chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, thì người sử dụng lao động trước đó phải lập phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

     3. Trong trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định tại Điều này, thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này”.
    
Căn cứ vào các quy định trên, về cơ bản, khi có sự thay đổi về cơ cấu, công nghệ hoặc khi sáp nhập, chia, tách doanh nghiệp, người sử dụng lao động có trách nhiệm tiếp tục sử dụng người lao động. Trong trường hợp không thể giải quyết được việc làm mới hoặc không thể sử dụng hết số lao động hiện có mà phải cho người lao động thôi việc thì người sử dụng lao động phải trợ trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2012, cụ thể là:

     “1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

     2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

     3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm”.
    
Như vậy, người lao động khi phải nghỉ việc do thay đổi về cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc khi sáp nhập, chia, tách doanh nghiệp thì được nhận trợ cấp mất việc làm thay cho trợ cấp thôi việc. Ngoài ra, căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2012 thì thời gian mà người lao động đã được chi trả trợ thôi việc và thời gian đóng bảo hiệm thất nghiệp không được tính vào thời gian để tính trợ cấp mất việc làm. Vì vậy, trong trường hợp người lao động được bị mất việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã, người lao động không được hưởng cả hai chế độ trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thôi việc cùng một lúc.

                                                                                            NĐP - Văn phòng Tư vấn pháp luật LĐLĐ tỉnh
Lên phía trên
Bảo hiểm xã hội
Câu hỏi:

Tôi là hiệu phó của một Trường Mầm non, đang đóng BHXH bắt buộc được 23 năm với tuổi đời là 44 tuổi; Vào tháng 10 năm 2015 tôi đi khám bệnh và phát hiện ung thư gan, Tôi dự định qua năm 2016 tôi xin nghỉ việc và lĩnh BHXH 1 lần để lấy tiền trị bệnh, điều kiện của tôi như vậy thì theo qui định của Luật BHXH có được lĩnh BHXH 1 lần hay không?

Trả lời:
     Căn cứ Điều 8 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP, ngày 11/11/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về Bảo hiểm xã hội bắt buộc trong đó có qui định về Bảo hiểm xã hội một lần như sau:
     1. Người lao động quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 2 của Nghị định này, bao gồm:
     a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
     b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;        
     c) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức;
     d) Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;        
     đ) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
     e, Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn; 
    g) Người hưởng chế độ phu nhân hoặc phu quân tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại Khoản 4 Điều 123 của Luật Bảo hiểm xã hội.              
    2. Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Nghị định này được áp dụng đối với các hợp đồng sau:
     a) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
     b) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
     c) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề;
    d) Hợp đồng cá nhân.
    Các đối tượng nêu trên mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
     a) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại các Khoản 1, 2 và 4 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội hoặc theo quy định tại Khoản 3 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội mà chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện;
     b) Sau một năm nghỉ việc mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội;
     c) Ra nước ngoài để định cư;
    d) Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế;
    Áp dụng vào trường hợp của Bạn đang đóng BHXH được 24 năm mà bị bệnh ung thư thì được hưởng BHXH 1 lần theo qui định.
     2. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm được tính như sau:
     a) 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước năm 2014;
     b) 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi./.
                                                      Văn phòng TVPL - LĐLĐ tỉnh
Lên phía trên
Chế độ thai sản theo Luật Bảo hiểm xã hội
Câu hỏi:

Bạn Chu Văn Quyết hỏi: Vợ tôi đang làm việc ở một công ty và đã làm được hơn 2 năm, đóng BHXH đầy đủ. Nay cô ấy có bầu được 4 tháng, nhưng do sức khoẻ yếu nên muốn nghỉ việc hẳn để ở nhà dưỡng sức. Đề nghị cho biết nếu vợ tôi nghỉ trước khi sinh vài tháng như vậy, có được hưởng trợ cấp thai sản không?

Trả lời:
     Theo thông tin bạn cung cấp thì hiện nay vợ bạn đang mang thai tháng thứ tư, ở thời điểm vợ bạn sinh con trong năm 2016 thì Luật BHXH 2014 có hiệu lực, nên trường hợp của vợ bạn sẽ được áp dụng theo quy định của Luật BHXH 2014. Điều 31 Luật BHXH 2014 quy định về điều kiện được hưởng chế độ thai sản như sau:
     Điều 31. Điều kiện hưởng chế độ thai sản:
     1. NLĐ được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
     a) Lao động nữ mang thai;
     b) Lao động nữ sinh con;
     c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;
     d) NLĐ nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi;
     đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, NLĐ thực hiện biện pháp triệt sản;
     e) Lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con;
     2. NLĐ quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con, hoặc nhận con nuôi.
......
     4. NLĐ đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này.
     Nếu vợ bạn nghỉ việc ở thời điểm hiện nay, khoảng 05 tháng sau vợ bạn sẽ sinh, như vậy vợ bạn đã có thời gian đóng BHXH được 07 tháng trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Nên trường hợp của vợ bạn đã đóng đủ BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời hạn 12 tháng trước khi sinh con. Theo quy định trên thì dù vợ bạn chấm dứt hợp đồng lao động trước thời điểm sinh con vẫn được hưởng chế độ thai sản.
                                                                                                                                                                                       
                                                                Đức Thành - Ban Tuyên giáo - Nữ công 
Lên phía trên
Chế độ thai sản
Câu hỏi:

Tôi đang làm công tác ở Xã là cán bộ không chuyên trách, trước đây có tham gia BHXH tự nguyện 2 năm, ngày 01/01/2016 tôi là đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và tôi đang mang thai được 02 tháng, dự kiến tháng sinh con là tháng 7 năm 2016. Hỏi khi tôi sinh con thì tôi có được hưởng chế độ thai sản theo qui định không?

Trả lời:
Căn cứ Điều 30 Luật BHXH năm 2014 qui định đối tượng áp dụng chế độ thai sản là người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 của Luật này. Tức là: 
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động; 
b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
c) Cán bộ, công chức, viên chức;
d) Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;                    
đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;                                                         
h) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; 
Như vậy bạn là cán bộ xã không chuyên trách có tham gia BHXH bắt buộc nhưng không thuộc đối tượng áp dụng chế độ thai sản thì khi sinh con bạn sẽ không được hưởng chế độ thai sản theo qui định; Tuy nhiên bạn được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất theo qui định của Luật BHXH năm 2014.

                                                                                                   Văn phòng Tư vấn pháp luật LĐLĐ tỉnh
Lên phía trên
Nghỉ phép năm
Câu hỏi:

Người lao động làm việc dưới 12 tháng, có được nghỉ phép năm và cách tính?

Trả lời:
     Khoản 2 Điều 114 Bộ Luật lao động quy định, người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hàng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền.
     Theo khoản 2, Điều 6 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP, thời gian thử việc theo hợp đồng lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động được coi là thời gian làm việc của người lao động để tính số ngày nghỉ hàng năm.
     Điều 7 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP quy định, số ngày nghỉ hàng năm theo Khoản 2 Điều 114 của Bộ Luật Lao động được tính như sau: lấy số ngày nghỉ hàng năm cộng với số ngày được nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm để tính thành số ngày được nghỉ hàng năm; kết quả phép tính lấy tròn số hàng đơn vị, nếu phần thập phân lớn hơn hoặc bằng 0,5 thì làm tròn lên 1 đơn vị.


                                                                                                                                                                          Văn phòng tư vấn pháp luật LĐLĐ tỉnh
Lên phía trên
cách tính số ngày nghỉ phép hàng năm
Câu hỏi:

Chế độ và cách tính số ngày nghỉ phép hàng năm, nghỉ thâm niên?

Trả lời:
     Căn cứ vào Bộ Luật lao động năm 2012, ngày nghỉ hàng năm được quy định như sau:
     - Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hàng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:
     + 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;
     + 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động      – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật;
     + 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.
     - Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hàng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động.
     - Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hàng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
     - Khi nghỉ hàng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hàng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.
     Ngày nghỉ hàng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc:
     Cứ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hàng năm của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Bộ Luật lao động được tăng thêm tương ứng 01 ngày.
     Như vậy, ngày nghỉ phép hàng năm đối với điều kiện làm việc bình thường của người lao động là 12 ngày, tuy nhiên cứ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hàng năm sẽ được tăng thêm tương ứng một ngày.


                                                                                                                                                                                                                       Văn phòng tư vấn pháp luật - LĐLĐ tỉnh
 
Rượu nhập
Các loại rượu nhập khẩu chính hãng nổi tiếng thế giới.
Học từ vựng theo chủ đề
Học từ vựng Tiếng Anh theo chủ đề hiệu quả
Kinh nghiệm học tiếng anh giao tiếp hiệu quả
Chia sẻ kinh nghiệm học tiếng anh giao tiếp