Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-BCH và Chỉ thị 03/CT-TLĐ

Đăng lúc: Thứ ba - 02/06/2015 20:46 - Người đăng bài viết: Văn phòng LĐLĐ
                         TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG
                                         VIỆT NAM
                                LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG
                                    TỈNH CAO BẰNG
 

                                  Số: 33/BC-LĐLĐ
 
             CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                      Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 
 
 

                      Cao Bằng, ngày 29 tháng 5 năm 2015
 
                                                                         BÁO CÁO SƠ KẾT
                               Thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-BCH về công tác vận động nữ CNVCLĐ
                                  thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
                               Chỉ thị 03/CT-TLĐ về phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”
                                                     trong nữ CNVCLĐ giai đoạn 2010 - 2015
 
     Thực hiện Hướng dẫn số 21/HD-TLĐ ngày 07/01/2015 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về việc sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-BCH ngày 29/01/2011 của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa X) “Về công tác vận động nữ công nhân, viên chức, lao động thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” (viết tắt là Nghị quyết 6b) và Chỉ thị 03/CT-TLĐ ngày 18/8/2010 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ giai đoạn 2010- 2015 (viết tắt là Chỉ thị 03), Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh Cao Bằng báo cáo kết quả thực hiện như sau:
 
                                                                      Phần thứ nhất
                                                       KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
                                           NGHỊ QUYẾT 6B/NQ-BCH VÀ CHỈ THỊ 03/CT-TLĐ
 
      I. Tình hình triển khai và kết quả thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-BCH và Chỉ thị 03/CT-TLĐ:
     1. Tình hình chung:
     Nữ công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ) là bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam và là lực lượng nòng cốt trong phong trào phụ nữ cả nước. Trong những năm qua, cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, đội ngũ CNVCLĐ tỉnh Cao Bằng nói chung, nữ CNVCLĐ nói riêng đã có nhiều chuyển biến cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay, nữ CNVCLĐ chiếm 57,6% lực lượng CNVCLĐ toàn tỉnh. Trong đó, ở một số ngành nghề lao động nữ chiếm tỷ lệ khá cao như: Ngành Y tế chiếm 72,9%; Giáo dục & Đào tạo chiếm 69,5%; Kho Bạc, Ngân hàng 58%...
     Nữ CNVCLĐ tỉnh Cao Bằng đã và đang đóng góp công sức, trí tuệ của mình trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, là lực lượng lao động xã hội đông đảo góp phần quan trọng trong việc thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị của địa phương. Là đối tượng tập hợp, vận động quan trọng của tổ chức công đoàn (CĐ), là lực lượng nòng cốt trong phong trào phụ nữ của tỉnh.
Tuy nhiên, những năm gần đây do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta gặp không ít khó khăn, tốc độ tăng trưởng suy giảm, lạm phát tăng cao đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm, thu nhập đời sống của người lao động. Trong đó lao động nữ gặp không ít khó khăn, nhất là ở khu vực sản xuất kinh doanh. Tình trạng nợ đọng BHXH, BHYT, BHTN, giải quyết chế độ chính sách đối với lao động nữ...ở một số doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức theo quy định của pháp luật hiện hành.
     2. Công tác chỉ đạo triển khai Nghị quyết 6b/NQ-BCH và Chỉ thị 03/CT-TLĐ:
      Nghị quyết 6b/NQ-BCH về công tác vận động nữ CNVCLĐ thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, Chỉ thị 03/CT-TLĐ về phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” thể hiện rõ sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và Tổng Liên đoàn đối với công tác phụ nữ, nhằm phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ với mục đích nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ trong xã hội, thực hiện bình đẳng giới, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ.
     Nhận thức được tầm quan trọng của Nghị quyết 6b/NQ-BCH và Chỉ thị 03/CT-TLĐ, Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh đã tổ chức hội nghị quán triệt Nghị quyết 6b/NQ-BCH và Chỉ thị 03/CT-TLĐ cho cán bộ công đoàn chủ chốt và cán bộ nữ công trong toàn hệ thống với 3 mục tiêu và 5 nhiệm vụ giải pháp, làm cơ sở để các cấp Công đoàn cụ thể hóa vào chương trình công tác của cấp mình. Chỉ đạo các cấp Công đoàn tổ chức thực hiện đảm bảo có hiệu quả các nội dung đề ra.  
     Thường xuyên chỉ đạo Ban nữ công đánh giá thực trạng lao động nữ, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách pháp luật liên quan đến lao động nữ, đưa công tác nữ công, công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình và công tác Bình đẳng giới vào tiêu chí thi đua và nội dung chấm điểm hoạt động công đoàn.
     Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh các cấp công đoàn đã hướng dẫn, triển khai Nghị quyết, Chỉ thị cụ thể hóa thành chương trình hành động của công đoàn cấp mình để triển khai thực hiện. Nhiều Liên đoàn Lao động huyện, Thành phố đã ký chương trình phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ, Bảo hiểm xã hội đồng cấp để tổ chức các hoạt động phù hợp với điều kiện và đặc điểm tình hình CNVCLĐ tại địa phương.
     Xác định đây là một trong những nội dung trọng tâm trong công tác chỉ đạo. Hàng năm, CĐ các cấp đều có đánh giá kết quả công tác vận động nữ CNVCLĐ, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích xứng đáng trong việc triển khai và tổ chức phong trào.
     II. Kết quả đạt được:
      1. Kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-BCH TLĐ về công tác vận động nữ CNVCLĐ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước:
     1.1.  Nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ phụ nữ và bình đẳng giới:
     Để nâng cao nhận thức về giới, về vị trí, vai trò của phụ nữ trong xã hội và gia đình; quyền của phụ nữ và trẻ em theo quy định của pháp luật...các cấp CĐ tăng cường đẩy mạnh các hoạt động với các nội dung đa dạng, phong phú như tuyên truyền về giới, bình đẳng giới, chính sách pháp luật liên quan đến lao động nữ và trẻ em. Tập trung phổ biến tuyên truyền các văn bản liên quan như: các Nghị quyết của Đảng về phụ nữ và gia đình, Kế hoạch hành động Vì sự tiến bộ phụ nữ, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm Y tế, Luật Lao động, Luật CĐ...Cụ thể, trong 5 năm đã tổ chức tuyên truyền và lồng ghép tuyên truyền được 2.327 với trên 20 nghìn lượt người tham gia; Tuyên truyền Đề án 343 về "Giáo dục phẩm chất phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước" và Đề án 704 về "Giáo dục 5 triệu bà mẹ nuôi dạy con tốt" được 279 cuộc với hơn 5 nghìn người tham gia; tổ chức 131 lớp tập huấn nâng cao năng lực và kiến thức về giới, bình đẳng giới cho cán bộ CĐ và cán bộ phụ trách công tác nữ công; tổ chức 2.347 hoạt động như: Gặp mặt, tọa đàm, tổ chức các Hội thi, Biểu dương gia đình nữ tiêu biểu, gặp mặt biểu dương nữ CNVCLĐ tiêu biểu...Thông qua các hoạt động này đã góp phần nâng cao nhận thức của nữ CNVCLĐ về chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, trách nhiệm của người chồng và các thành viên trong gia đình chia sẻ công việc với người phụ nữ, tạo điều kiện để chị em đảm đang việc nhà đồng thời đảm trách tốt công tác xã hội.
     Các cấp CĐ tham mưu cho cấp ủy cùng cấp trong việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ nhằm khắc phục tình trạng níu kéo, tư tưởng an phận trong nội bộ cán bộ nữ. Quan tâm công tác tạo nguồn, tuyển chọn cử nữ cán bộ CĐ tham gia các khóa đào tạo chuyên môn, lý luận chính trị, chú trọng đội ngũ cán bộ trưởng thành từ phong trào quần chúng ở cơ sở, quan tâm phát triển đảng viên nữ.
Thông qua các hoạt động của CĐ, nhiều chị đã trưởng thành qua thực tiễn phong trào, nhiều chị đã được Đảng, nhân dân tín nhiệm giao trọng trách đề bạt bổ nhiệm vào cương vị lãnh đạo đơn vị, quản lý các cấp ngày một tăng và có xu hướng trẻ hoá, cụ thể như:
     + Tỷ lệ nữ tham gia cấp Uỷ nhiệm kỳ 2010-2015: Cấp tỉnh: chiếm 14,54% (tăng 2,3% so với nhiệm kỳ trước), cấp huyện, thành phố chiếm 20,8% (tăng 20,4% so với nhiệm kỳ trước).
     + Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội khoá XIII chiếm 33,3% (tăng 50% so với nhiệm kỳ trước).
     + Tỷ lệ nữ tham gia Hội đồng nhân dân (Nhiệm kỳ 2011-2016): Cấp tỉnh chiếm 28% (tăng 9,64% so với nhiệm kỳ trước), Cấp huyện, thành phố chiếm 27,59% (tăng 4,1% so với nhiệm kỳ trước).  
     + Tỷ lệ nữ giữ cương vị lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể các cấp: Cấp tỉnh chiếm 27,3%, cấp huyện, thành phố chiếm 92,3%.
     + Tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành CĐ các cấp chiếm 48,5%; trong đó tỷ lệ nữ giữ chức vụ Chủ tịch chiếm 48,4%, Phó Chủ tịch chiếm 61%.
     Công tác phát triển đảng viên luôn được các cấp CĐ quan tâm, kết quả trong 5 năm số nữ được giới thiệu cho Đảng xem xét 3.300 chị, được kết nạp 2.927 chị.
     Công tác củng cố, kiện toàn mạng lưới Ban nữ công các cấp được các cấp CĐ quan tâm, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng hoạt động cho đội ngũ cán bộ nữ công để nâng cao chất lượng tham mưu cho Ban Thường vụ, Ban Chấp hành CĐ chỉ đạo phong trào phù hợp với tình hình thực tế của nữ CNVCLĐ.
     1.2. Tham gia xây dựng, triển khai thực hiện kiểm tra giám sát việc chấp hành luật pháp chính sách nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của nữ CNVCLĐ:
Các cấp công đoàn đã chủ động tham mưu đề xuất có hiệu quả việc tham gia sửa đổi và tổ chức thực hiện pháp luật, chế độ chính sách có liên quan trực tiếp đến lao động nữ và trẻ em. Quan tâm và tăng cường các hoạt động tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn thực hiện Bộ luật Lao động, Luật BHXH, BHYT, Luật Bình đẳng giới trong các doanh nghiệp sử dụng lao động nữ, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước. tập trung hướng dẫn lao động nữ ký hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật lao động, thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể và những nội dung có lợi hơn quy định của pháp luật cho lao động nữ, coi đây là một trong những biện pháp thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của lao động nữ tại doanh nghiệp.
     Tổ chức lấy ý kiến của nữ CNVCLĐ đóng góp vào dự thảo các Luật như: Luật Bảo hiểm xã hội và sửa đổi Bộ luật Lao động có 2.100 ý kiến. Thông qua đó góp phần nâng cao nhận thức pháp luật và tập trung trí tuệ của đông đảo CNVCLĐ tham gia xây dựng pháp luật.
     Chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức kiểm tra việc thực hiện chế độ chính sách đối với lao động nữ về vấn đề việc làm, hợp đồng lao động, tiền lương, nâng lương, thi tay nghề, nâng bậc, các chế độ quy định riêng đối với lao động nữ... Qua kiểm tra cho thấy, đối với các cơ quan hành chính, sự nghiệp thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với người lao động, một số doanh nghiệp thực hiện được các chế độ ưu đãi đối với lao động nữ, trên 90% doanh nghiệp đã cấp phát dụng cụ bảo hộ lao động, nhiều doanh nghiệp được đầu tư xây dựng, trang bị công nghệ mới, từng bước khắc phục được các yếu tố độc hại như tiếng ồn, bụi, nóng đảm bảo an toàn vệ sinh cho người lao động. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm pháp luật còn diễn ra, nhất là ở một số doanh nghiệp ngoài Nhà nước như: Việc ký kết hợp đồng lao động không cụ thể, thiếu nội dung, ký kết thỏa ước lao động tập thể còn thiếu những điều khoản có lợi hơn so với quy định của pháp luật, vẫn còn tình trạng CNVCLĐ chưa được tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hoặc chỉ được đóng theo mức lương tối thiểu, không theo mức lương thực trả, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Qua kiểm tra các cấp CĐ đã kiến nghị các cơ quan quản lý Nhà nước, các ngành chức năng có thẩm quyền phối hợp tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, kiểm tra giám sát và có biện pháp xử lý nghiêm minh những đơn vị vi phạm chế độ chính sách đã được pháp luật quy định đối với người lao động nói chung vào lao động nữ nói riêng.
     Kịp thời hỗ trợ, thăm hỏi động viên nữ CNVCLĐ có hoàn cảnh gia đình khó khăn từ các nguồn quỹ do CĐ các cấp phát động như quỹ "Mái ấm CĐ", quỹ "Trợ vốn vì nữ CNVCLĐ nghèo", quỹ "Đồng nghiệp", quỹ "Tình thương"...Cụ thể trong 5 năm đã thăm hỏi, trợ cấp cho 3200 lượt gia đình nữ CNVCLĐ có hoàn cảnh khó khăn, mắc bệnh hiểm nghèo...với số tiền gần 2 tỷ đồng, gần 200 chị được hỗ trợ để sửa chữa và xây dựng nhà mới bằng nguồn quỹ "Mái ấm CĐ", "Mái ấm tình thương" với số tiền hơn 3 tỷ đồng. Nhờ đó, phần nào khó khăn của gia đình nữ CNVCLĐ được giải quyết, là nguồn động viên để chị em phấn đấu vươn lên.
     Bên cạnh đó, Ban Chấp hành CĐ các cấp tín chấp cho nữ CNVCLĐ vay vốn quỹ Quốc gia giải quyết việc làm và các nguồn quỹ khác với tổng số tiền gần 4 tỷ đồng cho hơn 300 lượt chị vay để phát triển kinh tế gia đình.
     Hàng năm, vào dịp "Tháng hành động vì trẻ em" và ngày lễ, Tết các cấp CĐ đã tổ chức nhiều hình thức hoạt động như: Tổ chức gặp mặt tặng quà, biểu dương khen thưởng con CNVCLĐ đạt thành tích cao trong học tập; thăm hỏi động viên kịp thời các con CNVCLĐ có hoàn cảnh khó khăn...
     2. Kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị 03/CT-TLĐ ngày 18/8/2010 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" trong nữ CNVCLĐ:
     Đây là phong trào thi đua mang đặc thù giới xuyên suốt quá trình hoạt động nữ công của các cấp CĐ. Căn cứ vào các văn bản của Đảng, Nhà nước và chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các cấp CĐ đã hướng dẫn việc triển khai phong trào sát với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị.
     Để phong trào phù hợp với đặc thù của ngành, địa phương mình, các cấp CĐ đã cụ thể hóa tên gọi, xây dựng nội dung phong trào, từ đó phát động trong toàn ngành, địa phương nhằm động viên nữ CNVCLĐ hăng hái tham gia như; ngành Giáo dục với tên gọi phong trào là "Giỏi việc trường, đảm việc nhà", ngành Ngân hàng là "Giỏi việc ngân hàng, đảm việc nhà", CĐ Xây dựng với phong trào "Vượt khó, học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình Hạnh phúc"... Kết quả hàng năm có 98% chị em đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" và có trên 94% chị em được công nhận danh hiệu "Giỏi việc nước, đảm việc nhà", nhiều chị em đã được Đảng, Nhà nước, các cấp CĐ khen thưởng.
     2.1. Kết quả phong trào thi đua "Giỏi việc nước":
     Nữ CNVCLĐ ở tất cả các ngành, nghề, các thành phần kinh tế, ở các địa phương trong tỉnh đã tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua, đặc biệt là phong trào thi đua "Lao động giỏi", "Lao động sáng tạo", hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao với năng suất, chất lượng, hiệu quả, cụ thể như:
     - Trong lĩnh vực quản lý, lãnh đạo: Các chị luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ, có uy tín, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm tận tụy với công việc với phương châm thiết thực hiệu quả, dám nghĩ, dám làm, đổi mới nội dung, cải tiến lề lối làm việc... Nhiều chị đảm trách chức vụ cao của cấp ủy, chính quyền các cấp, tiêu biểu như: chị Hoàng Thị Huyền - UVBTV Tỉnh ủy, Trưởng Ban Dân vận, chị Nguyễn Thúy Anh - Tỉnh ủy viên, Chủ tịch UBMTTQ tỉnh, chị Nguyễn Bích Ngọc - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, chị Nông Thị Hà, chị Hoàng Thị Thu - Tỉnh ủy viên, Phó Ban Dân vận tỉnh ủy, chị Nguyễn Thị Oanh - Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy, chị Hoàng Thị Đâư-Tỉnh ủy viên, Bí Thư Huyện ủy Bảo Lâm, chị Hoàng Thị Mỹ Hảo - Tổng Biên tập Báo Cao Bằng, chị Đồng Thị Kiều Oanh- Giám đốc Sở Nội vụ, chị Nguyễn Thị Hương - Giám đốc Kho bạc Nhà nước tỉnh...là những tấm gương tiêu biểu, các chị đã có những đóng góp quan trọng trong quá trình lãnh đạo, điều hành ở các đơn vị và địa phương.
     - Trong lĩnh vực Y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân: Nữ CNVCLĐ ngành Y tế luôn nêu cao tinh thần thái độ phục vụ người bệnh thực hiện tốt 12 điều quy định về y đức của ngành Y tế “Lương y như từ mẫu”. Là những người thường xuyên tiếp xúc với nguồn lây nhiễm từ bệnh tật, bệnh nhân, các chị đã không quản ngại khó khăn, vất vả ngày đêm phục vụ người bệnh, nhất là chị em làm việc tại các khoa hồi sức cấp cứu, khoa nhi, khoa sản.. nhiều chị không quản ngại các chuyến đi hỗ trợ tuyến dưới, các đợt cao điểm dịch bệnh, say sưa nghiên cứu để chế ra các loại thuốc chữa bệnh bằng nguồn dược liệu có sẵn...Cụ thể 5 năm qua đã có 02 đề tài cấp tỉnh, 30 đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, gần 200 sáng kiến, giải pháp hữu ích. Có 04 chị được tặng Huân chương Lao động hạng Ba, 04 chị được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 01 chị được tặng danh hiệu Thầy thuốc nhân dân, 09 chị được tặng danh hiệu Thầy thuốc ưu tú. Tiêu biểu như chị Lý Thị Hạc - GĐ Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An, chị Lê Thị Tuyết Chinh - GĐ Bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh Cao Bằng...
     - Trong lĩnh vực giáo dục: Với lực lượng lao động đông đảo, đội ngũ nữ nhà giáo đã xác định rõ trọng tâm phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chú trọng tự học, tự bồi dưỡng tích cực đổi mới phương pháp, sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học... kết quả trong 5 năm có 39 nữ nhà giáo được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, 15 nữ nhà giáo được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, 16 nữ nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú và gần 3 nghìn lượt nữ nhà giáo được tặng Bằng khen của Bộ, ngành và CĐ các cấp. Tiêu biểu như chị Nguyễn Thị Vân- PGĐ Sở GD&ĐT, chị Trịnh Thị Nga - Hiệu trưởng Trường THPT Thành phố, chị Đỗ Mai Hương - Hiệu trưởng Trường THPT Bế Văn Đàn, chị Bế Thị Thúy - Hiệu trưởng Trường THPT Nguyên Bình...
     - Trong lĩnh vực quản lý, điều hành sản xuất và kinh doanh: Các chị luôn năng động sáng tạo, bám sát nhu cầu thị trường, nhanh nhạy trong việc lựa chọn đối tác mở rộng liên doanh, liên kết, xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, đảm việc làm, thu nhập ổn định, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. Tận tụy và trách nhiệm, thận trọng trong đầu tư, nhân hậu trong ứng xử đó là những nét đặc trưng của các nhà quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh nữ. Tiêu biểu như  chị Chu Thị Xuân - Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Cao Bằng, chị Nguyễn Phương Lan - Giám đốc CTCPXD gốm Nam Phong Cao Bằng, chị Đào Phương Hồng - GĐ chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư & Phát triển Cao Bằng.
     - Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các chị thường xuyên rèn luyện ý thức kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, phấn đấu nâng cao trình độ kỹ thuật, tay nghề, kỹ năng làm việc đạt năng suất cao, chất lượng tốt để có thu nhập và cuộc sống ổn định...Hưởng ứng phong trào "Lao động giỏi", "Lao động sáng tạo" do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động, các ngành đã có nhiều hình thức đa dạng, cụ thể hóa phong trào "Giỏi việc nước, đảm việc nhà". Trong bối cảnh suy giảm kinh tế do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, cùng với lực lượng CNVCLĐ các chị vẫn kiên trì khắc phục khó khăn để duy trì sản xuất của doanh nghiệp, đã khẳng định được mình dù ở vị trí sản xuất, kinh doanh nào nếu biết khắc phục những khó khăn, lao động hăng say và sáng tạo chắc chắn sẽ gặt hái được những thành công.
     - Trong lĩnh vực công tác Đảng, mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội và quản lý Nhà nước: Là những cán bộ công chức, viên chức ở các cơ quan, các đơn vị sự nghiệp của các ban, ngành, đoàn thể các cấp. Đây là những cơ quan hoạch định và triển khai mọi chủ trương, chính sách vào thực tiễn cuộc sống. Nhận thức được vai trò của mình, các chị luôn chủ động học hỏi nâng cao trình độ và chất lượng hiệu quả công việc, thực hiện cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin,  xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa, tích cực hưởng ứng cuộc vận động người cán bộ công chức viên chức “Trung thành, sáng tạo, tận tụy, gương mẫu” góp phần xây dựng Đảng và chính quyền trong sạch vững mạnh.
     - Không thể không kể đến đội ngũ cán bộ nữ công đoàn: Các chị luôn tâm huyết, mẫn cán, nhiệt tình và gắn bó với cán bộ, đoàn viên. Đặc biệt với chị em, gần gũi sâu sát, luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chị em để đồng cảm, chia sẻ và động viên chị em vượt qua mọi khó khăn.
     2.2. Kết quả phong trào thi đua "Đảm việc nhà":
     Cùng với phong trào thi đua "Giỏi việc nước" chị em cũng là người tích cực gương mẫu thực hiện tốt "Đảm việc nhà". Đây là trách nhiệm, là chức năng vốn có của người phụ nữ Việt Nam, dù ở công việc gì các chị đều nêu cao được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao cũng như trách nhiệm xây dựng gia đình "No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc", vừa là người vợ hiền, người mẹ mẫu mực, người con hiếu thảo chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ chồng cũng như cha mẹ đẻ, luôn giữ cho gia đình hoà thuận đầm ấm, hạnh phúc. Không chỉ đơn thuần là bình đẳng giới mà còn là bình đẳng trong công việc và trong quan hệ xã hội. Nhiều chị đã thực sự tạo được sự công bằng và bình đẳng ngay trong chính những công việc giản đơn thường nhật của gia đình như: phân công lao động hợp lý, tạo thói quen cho chồng con biết chia sẻ công việc cùng có trách nhiệm trong việc chăm lo xây dựng, gìn giữ và bảo vệ hạnh phúc gia đình. Nhiều gia đình nữ CNVCLĐ giữ được nét đẹp truyền thống có nhiều thế hệ cùng chung sống hạnh phúc, yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Nhiều chị có hoàn cảnh éo le; Chồng ốm đau, bệnh tật hoặc không may qua đời... nhưng các chị đã vượt lên số phận, với nghị lực và niềm tin, bằng trí óc và sức lao động để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao và là điểm tựa vững chắc để nuôi dạy chăm sóc những đứa con chăm ngoan, học giỏi thành đạt. Rất nhiều gia đình có con thi đỗ thủ khoa các trường Đại học, đạt giải cao tại các kỳ thi học sinh giỏi.
     Với vai trò là công dân nơi cư trú: các chị luôn giáo dục con em, tuyên truyền người thân trong gia đình chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chấp hành tốt quy định, quy ước của làng xóm, khu phố. Tham gia các hoạt động ở khu dân cư, Cuộc vận động “ 5 không, 3 sạch” gắn với việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", luôn giữ mối đoàn kết với bà con khu phố, sống có nghĩa có tình, thể hiện phẩm chất đạo đức tư cách của người cán bộ công chức. Hầu hết gia đình các chị đều được công nhận danh hiệu "Gia đình văn hoá" ở khu dân cư, nhiều gia đình được khen thưởng "Gia đình văn hoá tiêu biểu", "Gia đình hiếu học".
     Có thể nói phong trào thi đua "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" trong nữ CNVCLĐ đã góp phần thiết thực vào xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Do điều kiện, hoàn cảnh mỗi người nên "giỏi" và "đảm" ở các chị có thể có các cung bậc khác nhau nhưng chúng ta phải khẳng định rằng, thành tích của nữ CNVCLĐ trong phong trào thi đua "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" là hết sức ý nghĩa, trong khuôn khổ báo cáo này không thể kể hết được những việc làm tốt, những kinh nghiệm hay và những tấm gương điển hình của các tập thể, cá nhân, của các ngành, các lĩnh vực, các địa phương, nhưng tất cả nữ CNVCLĐ đều, đã và đang miệt mài cống hiến cho sự lớn mạnh và phát triển của đơn vị, cho ngành, cho quê hương đất nước và xây dựng "tổ ấm" cho mỗi gia đình.
     Trong dịp sơ kết giai đoạn 2010 - 2015, Liên đoàn Lao động tỉnh tặng Bằng khen cho 22 tập thể và 49 cá nhân; các CĐ cơ sở tặng Giấy khen cho 327 tập thể và 2720 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”.
     III. Đánh giá chung:
     1. Ưu điểm:
      Với những kết quả đã đạt được, có thể khẳng định Nghị quyết 6b/NQ-BCH, Chỉ thị 03/CT-TLĐ đã thực sự đi vào đời sống của nữ CNVCLĐ được các cấp công đoàn tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào đã trở thành nguồn động lực thúc đẩy chị em vượt qua nhiều thử thách khó khăn, phát huy tài năng trí tuệ sáng tạo, thông minh, đức tính cần cù chịu khó, truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam. 
     Phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” cùng với phong trào thi đua “Lao động giỏi, Lao động sáng tạo”, “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; góp phần tích cực vào việc xây dựng cơ quan, đơn vị và tổ chức Công đoàn vững mạnh. Thành tích của phong trào là kết quả tổng hợp yếu tố nội lực của chị em và sự quan tâm chỉ đạo của các cấp.
     2. Tồn tại, hạn chế
     Công tác tuyên truyền, phổ biến, triển khai Nghị quyết ở một số CĐ cơ sở  còn mang tính hình thức, chương trình hành động chưa sát với thực tế. Công tác chỉ đạo kiểm tra, giám sát đối với phong trào có lúc chưa được thường xuyên, thiếu chủ động.
      Công tác cán bộ nữ tuy đã được quan tâm, song tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo quản lý còn chiếm tỷ lệ thấp chưa tương xứng với sự phát triển về số lượng và chất lượng của nữ CNVCLĐ, công tác phát hiện giới thiệu cho Đảng những nữ CNVCLĐ có năng lực, trình độ, trưởng thành từ phong trào để tham gia cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa được quan tâm đúng mức.
Trong vận dụng tiêu chuẩn và cách thức tiến hành tổ chức bình xét danh hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” ở một số cơ sở còn lúng túng, chưa phản ánh đúng thực chất của phong trào; việc phát hiện, nhân điển hình chưa được quan tâm thường xuyên.
     3. Nguyên nhân:
     Tư tưởng định kiến giới, hẹp hòi với nữ vẫn tồn tại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và trong xã hội, bên cạnh đó cũng còn một bộ phận nữ CNVCLĐ tự ti, thụ động thiếu ý chí vươn lên.
      Điều kiện tổ chức hoạt động nữ công ở một số cơ sở còn khó khăn, sự quan tâm, tạo điều kiện của người sử dụng lao động về thời gian sinh hoạt, về địa điểm sinh hoạt, về học tập nâng cao trình độ cho nữ CNVCLĐ còn hạn chế; Kinh phí dành cho hoạt động nữ công, cho tổ chức phong trào thi đua và khen thưởng còn hạn hẹp, tỷ lệ khen thưởng chưa tương xứng với kết quả phong trào.
     4. Bài học kinh nghiệm
     Nghị quyết 6b/NQ-BCH, Chỉ thị 03/CT-TLĐ đã từng bước đi vào cuộc sống thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và tổ chức CĐ đối với công tác cán bộ nữ. Qua thực tế cho thấy để thực hiện tốt Nghị quyết 6b, Chỉ thị 03 cần có sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể để vận dụng linh hoạt vào tình hình thực tế của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.
     Công tác vận động nữ CNVCLĐ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và phong trào "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" chỉ có thể thật sự đi vào cuộc sống, có chất lượng và hiệu quả đòi hỏi các mục tiêu và nội dung của Nghị quyết  phải được cụ thể hoá phù hợp với đặc điểm tình hình hoạt động của ngành, địa phương, đơn vị.
     Quá trình chỉ đạo thực hiện, thường xuyên kiểm tra rút kinh nghiệm. Tăng cường kiểm tra, đôn đốc, tổ chức sơ, tổng kết, kịp thời phát hiện, bồi dưỡng và nhân điển hình các tập thể và cá nhân tiêu biểu để động viên phong trào.
    Cần quan tâm củng cố tổ chức và kiện toàn đội ngũ cán bộ nữ công CĐ các cấp đủ mạnh để tham mưu có hiệu quả cho Ban Chấp hành CĐ về công tác vận động nữ.
 
                                                                      Phần thứ hai
                                               PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
                                                    TRONG NHỮNG NĂM TIẾP THEO
 
     Để tiếp tục đẩy mạnh Nghị quyết 6b/NQ-BCH và Chỉ thị 03/CT-TLĐ trong thời gian tới các cấp công đoàn cần phát huy những kinh nghiệm hay, những cách làm tốt đã được rút ra qua tổng kết tại địa phương, ngành, đơn vị mình, đồng thời cần quan tâm thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:
     1. Tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu về công tác phụ nữ trong tình hình mới nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp công đoàn về công tác vận động nữ CNVCLĐ.
     2. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền giáo dục trong CNVCLĐ về chính sách pháp luật lao động, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, giáo dục phẩm chất đạo đức người phụ nữ Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thông qua đó nâng cao nhận thức của nữ CNVCLĐ trong việc tích cực học tập nâng cao trình độ mọi mặt nhằm đem lại quyền lợi thiết thực cho chị em và cũng vừa để cao trách nhiệm của nam giới trong công việc gia đình.
     3. Đẩy mạnh phong trào thi đua "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" gắn với phong trào "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc". Cụ thể hoá nội dung, tiêu chuẩn thi đua cho phù hợp với ngành, địa phương, đơn vị. Tôn vinh, biểu dương kịp thời các tài năng sáng tạo nữ, các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua và các cuộc vận động.
     4. Nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của chị em, tạo điều kiện thuận lợi cho chị em được học tập nâng cao trình độ mọi mặt, được chăm sóc sức khoẻ và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần. Chủ động tham gia xây dựng chính sách pháp luật có liên quan lao động nữ và trẻ em, cùng với người sử dụng lao động quan tâm vấn đề tạo việc làm ổn định, cải thiện môi trường, điều kiện làm việc cho nữ CNVCLĐ. Đặc biệt đấu tranh chống các hành vi phân biệt đối xử, xâm hại, xúc phạm nhân phẩm người phụ nữ. Tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách với lao động nữ, kiến nghị sửa đổi những bất hợp lý và xử lý những vi phạm trong việc thực hiện chính sách pháp luật về lao động nữ. Phát hiện những nữ CNVCLĐ ưu tú để đào tạo, bồi dưỡng, giới thiệu tham gia đội ngũ cán bộ, lãnh đạo quản lý các cấp.
     5. Đẩy mạnh các hoạt động xã hội nhân đạo, phát huy truyền thống tương thân, tương ái trong CNVCLĐ, tham gia các hoạt động của cộng đồng, quan tâm chăm lo cho đối tượng nữ CNVCLĐ ở các vùng cao, vùng sâu, biên giới, đối tượng nữ có con nhỏ đi học, có hoàn cảnh khó khăn.
     6. Quan tâm củng cố kiện toàn ban nữ công cả về số lượng và chất lượng, phát huy vai trò chủ động tham mưu về công tác nữ, tăng cường việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng công tác cho cán bộ nữ công các cấp, nhất là những cán bộ mới tham gia công tác công đoàn, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động nữ công, hướng về cơ sở. Tranh thủ sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự phối hợp, hỗ trợ của lãnh đạo chuyên môn, chính quyền với Ban VSTBCPN và Hội Phụ nữ đồng cấp, các ban ngành, đoàn thể liên quan đến tổ chức phong trào, đưa phong trào tiếp tục phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu./.
 
 
 
Nơi nhận:
- Ban Nữ công TLĐ;
- Ban Vì sự tiến bộ PN tỉnh;
- Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh;
- Lãnh đạo LĐLĐ tỉnh;
- Các Ban chuyên đề;
- Các cấp CĐ;
- Lưu: TG-NC, VT.
                    TM. BAN THƯỜNG VỤ
                           PHÓ CHỦ TỊCH
 
 
                               (Đã ký)
 
 
                          Hà Nhật Lệ
 

Nguồn tin: ldld.caobang.gov.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc