MỘT SỐ ĐIỀU CẦN LƯU Ý ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦ TRONG NỘI BỘ CƠ QUAN, ĐƠN VỊ THEO NGHỊ ĐỊNH 04/2015/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ

Đăng lúc: Thứ hai - 21/09/2015 00:24 - Người đăng bài viết: Văn phòng LĐLĐ
     Ngày 09/01/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2015/NĐ-CP  “Về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập”, có hiệu thi hành từ ngày 25 tháng 02 năm 2015 (thay thế Nghị định 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan), Nghị định có 04 chương và 18 điều, phạm vi điều chỉnh bao gồm: Dân chủ trong nội bộ cơ quan, đơn vị; dân chủ trong quan hệ và giải quyết công việc với công dân, cơ quan, tổ chức có liên quan.
     Theo đó, nội dung: “dân chủ trong nội bộ cơ quan, đơn vị” quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và của công chức, viên chức trong thực hiện dân chủ trong hoạt động nội bộ của cơ quan, đơn vị; những việc phải công khai để cán bộ, công chức, viên chức biết; những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến, người đứng đầu cơ quan quyết định; những việc cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra.
     Đối tượng áp dụng gồm: “Cán bộ, công chức quy định tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cấp huyện; viên chức theo quy định tại Điều 2 Luật Viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập và người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp, có trong danh sách trả lương và là đoàn viên công đoàn của cơ quan, đơn vị”. Đặc biệt Nghị định còn quy định cụ thể: “Cán bộ, công chức cấp xã thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan theo quy định tại Nghị định này và các quy định tại Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”.
     Tuy nhiên nhiều năm qua, thực hiện dân chủ ở cơ sở, trong đó việc tổ chức Hội  nghị cán bộ, công chức (HNCBCC) có lúc, có nơi còn chưa được nghiêm túc. Có cơ quan, đơn vị tổ chức HNCBCC nhưng nội dung sơ sài, không đảm bảo đầy đủ theo quy định; nhiều đơn vị sinh hoạt công đoàn ghép (như CĐCS khối Ủy ban nhân dân huyện, CĐCS khối dân... chưa tìm được hình thức tổ chức HNCBCC phù hợp, lúng túng trong tổ chức thực hiện, một số xã cũng chưa tổ chức Hội nghị do nhiều lý do, trong đó có nguyên nhân do chưa biết vận dụng NĐ 71/1998/NĐ-CP trước đây...)
      Nguyên nhân chủ yếu là thủ trưởng một số cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, không quan tâm tổ chức hàng năm, thậm chí còn coi đó là trách nhiệm của công đoàn, giao cho Ban chấp hành công đoàn cơ quan chủ trì thực hiện, trong khi đó Điều 5, Nghị định 04 ghi rõ: “Người đứng đầu cơ quan, đơn vị chủ trì, phối hợp với Công đoàn cơ quan, đơn vị tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị mỗi năm một lần vào cuối năm”. Bên cạnh đó một số cán bộ công đoàn cơ sở cũng chưa nghiên cứu kỹ các văn bản như:  Nghị định, Thông tư hướng dẫn, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của công đoàn cấp trên...vì vậy chưa hiểu rõ về trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, của ban chấp hành công đoàn cơ sở trong việc tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức (HNCBCCVC).
Việc chủ trì tổ chức HNCBCCVC hàng năm là trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị phối hợp với Ban chấp hành công đoàn tổ chức, tuy nhiên để việc phối hợp tổ chức HNCBCCVC đạt hiệu quả đồng thời cũng là thực hiện vai trò, chức năng của tổ chức công đoàn, cán bộ công đoàn các cấp cần lưu ý nghiên cứu kỹ một số điều trong Nghị định 04/2015/NĐ-CP:
     Điều 4. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị
     Điều 5. Tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức (Quy định trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị đối với việc tổ chức HNCBCCVC; nội dung HNCBCCVC).
     Điều 6. Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức
     Điều 7. Những việc phải công khai
     Điều 9. Những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến
     Điều 11. Những việc cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra.
     Bên cạnh việc nghiên cứu, nắm rõ những nội dung trên, cán bộ công đoàn cơ sở cũng cần nhận thức rõ trách nhiệm của Ban chấp hành công đoàn để thực hiện hiệu quả Nghị quyết HNCBCCVC như sau:
     - Thông báo kết quả hội nghị cán bộ, công chức; kế hoạch triển khai nghị quyết hội nghị cán bộ, công chức đến toàn thể cán bộ, công chức cơ quan.
     - Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nghị quyết hội nghị cán bộ, công chức; phát hiện và kiến nghị với Thủ trưởng cơ quan các biện pháp giải quyết để thực hiện tốt nghị quyết hội nghị cán bộ, công chức cơ quan.
     - Chỉ đạo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân cơ quan, thực hiện quyền tự tổ chức kiểm tra của công đoàn theo quy định của pháp luật, đảm bảo kết quả thực hiện nghị quyết và các quyết định của hội nghị cán bộ, công chức cơ quan.
     - Định kỳ 6 tháng một lần Ban chấp hành công đoàn cơ quan cùng với thủ trưởng cơ quan kiểm điểm đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết hội nghị cán bộ, công chức và phong trào thi đua, thông báo cho toàn thể cán bộ, công chức cơ quan biết.
     Phối hợp tổ chức tốt HNCBCCVC hàng năm tại cơ quan, đơn vị là một trong những yếu tố quan trọng góp phần khẳng định và nâng cao vai trò, vị thế, uy tín của tổ chức Công đoàn đối với xã hội và đoàn viên, công nhân viên chức, lao động.
                                       
 
Tác giả bài viết: Phạm Đức Khôi - Trưởng Ban CSPL LĐLĐ tỉnh
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc