Cao Bằng là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử cách mạng và văn hoá. Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộc ở Cao Bằng luôn phát huy truyền thống đoàn kết, đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước. Trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, Cao Bằng luôn giữ vị trí chiến lược trọng yếu và là bức “phên giậu” vững chắc nơi biên cương phía Bắc của Tổ quốc; là vùng đất địa linh nhân kiệt, ghi đậm dấu ấn những trang sử oanh liệt, hào hùng trong suốt quá trình lịch sử của dân tộc. Trải qua 95 năm xây dựng và phát triển, dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát huy truyền thống quê hương cách mạng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng đã luôn nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết một lòng, nỗ lực cùng cả nước thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Di tích lịch sử Nặm Lìn - Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng.
I. CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN RA ĐỜI MỞ RA BƯỚC NGOẶT QUAN TRỌNG CHO PHONG TRÀO CÁCH MẠNG CAO BẰNG
1. Bối cảnh lịch sử ra đời chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên
1.1. Bối cảnh trong nước
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, biến nước ta thành nước thuộc địa nửa phong kiến. Từ đó, các phong trào yêu nước của quần chúng nhân dân chống thực dân Pháp diễn ra mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại, xã hội Việt Nam rơi vào khủng hoảng về đường lối cách mạng.
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công như một luồng gió mới thổi vào phong trào cách mạng của các nước thuộc địa, mở ra con đường đấu tranh giải phóng cho các dân tộc bị áp bức. Nguyễn Ái Quốc, nhà yêu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam sau nhiều năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước, đã đến với Cách mạng Tháng Mười Nga và tìm thấy con đường đấu tranh giải phóng cho dân tộc. Từ chủ nghĩa yêu nước, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường cách mạng vô sản; đồng thời tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người tập trung chuẩn bị về chính trị, tổ chức và cán bộ, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu, Trung Quốc (năm 1925), mở các lớp huấn luyện về lý luận cách mạng vô sản thu hút nhiều trí thức và thanh niên yêu nước trong nước sang Quảng Châu gia nhập Hội. Từ đó, phong trào cách mạng Việt Nam có những bước phát triển mới.
Năm 1929, ba tổ chức cộng sản đầu tiên (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn) được thành lập đã phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Song sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn, phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động. Yêu cầu bức thiết đặt ra là cần phải có một Đảng thống nhất lãnh đạo. Trước tình hình đó, từ ngày 06/01/1930 đến ngày 07/02/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản họp ở bán đảo Cửu Long thuộc Hồng Kông (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản. Đại biểu các tổ chức cộng sản của Việt Nam đã thống nhất hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960) đã quyết định lấy ngày 3 tháng 2 (dương lịch) hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX.
1.2. Bối cảnh tỉnh Cao Bằng
Sau khi thực dân Pháp chiếm đóng Cao Bằng (tháng 10/1886), chúng tiến hành khai thác tài nguyên, bóc lột sức lao động của công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác. Dưới sự thống trị tàn bạo của thực dân - phong kiến, từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở Cao Bằng đã diễn ra nhiều cuộc đấu tranh chống lại ách đô hộ, áp bức của thực dân, phong kiến và có sự chuyển hóa từ “tự phát” lên “tự giác”, nhất là trong những năm 1927 - 1928. Giữa lúc đó, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc truyền bá vào trong nước, ở Cao Bằng đã xuất hiện các tổ chức yêu nước như Hội đánh Tây, Hội thanh niên phản đế… thu hút nhiều thanh niên yêu nước, tiến bộ tham gia, trong đó nổi bật và có ảnh hưởng hơn cả là Hoàng Đình Giong , một thanh niên dân tộc Tày ở xã Xuân Phách, châu Hòa An (nay là phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng). Hoàng Đình Giong đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc truyền bá và trực tiếp tuyên truyền, vận động mở rộng các Hội thanh niên phản đế, tổ chức gây dựng nhiều cơ sở của Hội đánh Tây ở các tổng Tượng Yên, Nhượng Bạn, Hà Đàm (châu Hòa An), sau phát triển lên Hà Quảng, sang Quảng Uyên và các châu khác trong tỉnh. Do yêu cầu, đòi hỏi của cách mạng, năm 1927, Hoàng Đình Giong đã bí mật sang Long Châu (Trung Quốc) bắt liên lạc với Ban lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và tham dự các lớp huấn luyện của Hội bồi dưỡng về con đường cách mạng, tổ chức giáo dục thanh niên yêu nước làm cách mạng. Đến ngày 19/6/1928, đồng chí Hoàng Đình Giong được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại cơ sở Long Châu và cùng các đồng chí khác ra sức xây dựng cơ sở, tập hợp cán bộ, mở các lớp huấn luyện, tuyên truyền tư tưởng cách mạng.
2. Sự ra đời chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng
Sau khi tiếp thu con đường cách mạng do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc truyền bá, đồng chí Hoàng Đình Giong với tư cách là người phụ trách Hội ở Long Châu đã ra sức chỉ đạo xây dựng cơ sở Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chọn cử được nhiều thanh niên người Cao Bằng đã được giác ngộ cách mạng sang Long Châu học tập tại các lớp huấn luyện của Hội rồi lại đưa về Cao Bằng hoạt động. Cuối năm 1928, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên kết nạp thêm đồng chí Hoàng Văn Nọn (tức Hoàng Như, Hoàng Vĩnh Tuy, Văn Tân, Tú Hưu); năm 1929, kết nạp thêm Lê Đoàn Chu (tức Lê Mới, Nam Cao). Sau khi kết thúc khoá học, nhiều đồng chí đã được cử về Cao Bằng để tuyên truyền vận động, tổ chức các cơ sở Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Đình Giong, nhân ngày tết truyền thống là rằm tháng Bảy năm Kỷ Tỵ (tức ngày 19/8/1929), tại chùa Đống Lân, xã Hưng Đạo, châu Hòa An (nay thuộc thành phố Cao Bằng), các đồng chí Hoàng Văn Nọn và Lê Đoàn Chu đã thay mặt Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức lễ kết nạp Nông Văn Đô, Hoàng Văn Khoa, Lưu Xương (Sơn), Nguyễn Khánh Phù (Bá Nhân), Nghiêm, Cát vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đây là tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đầu tiên được thành lập ở Cao Bằng.
Sau lễ thành lập, các hội viên được cử về các địa phương để tiếp tục tuyên truyền, vận động phát triển các cơ sở của Hội, với sự tích cực đó, một thời gian sau, cơ sở của Hội đã được thành lập tại Mỏ thiếc Tĩnh Túc và các địa phương khác. Đây là những cơ sở Hội đầu tiên tạo tiền đề cho sự phát triển Hội mạnh mẽ hơn tại Cao Bằng.
Tháng 12/1929, các đồng chí Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Nọn, Hoàng Văn Thụ được đồng chí Lê Hồng Sơn, đại diện của Đông Dương Cộng sản Đảng kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng và tuyên bố thành lập Chi bộ Hải ngoại Long Châu (Trung Quốc). Đồng chí Hoàng Đình Giong được bầu làm Bí thư Chi bộ. Chi bộ Long Châu có nhiệm vụ gây dựng và phát triển phong trào quần chúng cách mạng ở vùng biên giới Cao Bằng - Lạng Sơn, hướng dẫn thanh niên yêu nước ra dự những lớp huấn luyện cách mạng ở nước ngoài, đưa đón cán bộ đi hoạt động giữa hai vùng biên giới. Sau Hội nghị thành lập Đảng (tháng 02/1930), Chi bộ Hải ngoại Long Châu do đồng chí Hoàng Đình Giong làm Bí thư, chính thức trở thành chi bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực hiện chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, đầu năm 1930, chi bộ Hải ngoại Long Châu cử đồng chí Hoàng Văn Nọn về Cao Bằng hoạt động để chuẩn bị tiến tới thành lập tổ chức Đảng ở Cao Bằng. Sau một thời gian tiếp tục tuyên truyền, rèn luyện, qua kiểm tra phong trào và thử thách cán bộ, ngày 01/4/1930, đồng chí Hoàng Văn Nọn thay mặt Chi bộ Long Châu, kết nạp hai đồng chí Lê Đoàn Chu và Nông Văn Đô (tức Bích Giang, Cát Lợi) vào Đảng, tuyên bố thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của Cao Bằng tại Nặm Lìn, xã Hoàng Tung, châu Hòa An, do đồng chí Hoàng Văn Nọn làm Bí thư. Chi bộ đã đề ra hai nhiệm vụ hàng đầu là: Tích cực phát triển cơ sở Đảng, đặc biệt là ở mỏ thiếc Tĩnh Túc và thị xã Cao Bằng; đẩy mạnh phong trào chống thuế, chống bắt phu ngày mùa, đi phu phải được cấp tiền, gạo...
3. Ý nghĩa lịch sử sự ra đời chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên
Sự kiện chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng ra đời có ý nghĩa to lớn đối với phong trào cách mạng của tỉnh và góp phần quan trọng trong phát triển phong trào cách mạng của cả nước.
- Ngay từ khi mới ra đời, chi bộ đã thực hiện chức năng nhiệm vụ như Tỉnh uỷ lâm thời, lãnh đạo phong trào cách mạng trong toàn tỉnh, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng chính trị và hành động của phong trào cách mạng của một tỉnh với toàn quốc. Từ đây, nhân dân các dân tộc Cao Bằng vững bước đi lên dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng Cộng sản Việt Nam, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, cho tới khi giành được thắng lợi hoàn toàn.
- Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp, là bước ngoặt đánh dấu sự phát triển vượt bậc của phong trào cách mạng trong tỉnh; là thắng lợi rất quan trọng của tư tưởng vô sản trong cuộc đấu tranh với kẻ thù. Đồng thời, khẳng định vai trò của những người cộng sản và hệ tư tưởng Mác - Lênin với phong trào cách mạng ở một tỉnh miền núi dân tộc thiểu số.
- Sự kiện thành lập Chi bộ Nặm Lìn - chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở Cao Bằng đã tạo nền móng vững chắc cho phong trào cách mạng và sự phát triển thành Đảng bộ Cao Bằng sau này.
- Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng được thành lập ngày 01/4/1930 là một trong những chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời sớm tại vùng miền núi biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc . Cũng từ Cao Bằng, thực hiện sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, nhiều cán bộ cách mạng của tỉnh đã được Đảng điều về hoạt động gây dựng cơ sở cách mạng, góp phần vào việc thành lập tổ chức đảng tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước .
II. CÁC CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ VẺ VANG QUA 95 NĂM XÂY DỰNG, TRƯỞNG THÀNH CỦA ĐẢNG BỘ CAO BẰNG (1930 - 2025)
1. Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945)
Ngay sau khi ra đời, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Nặm Lìn, phong trào cách mạng Cao Bằng nhanh chóng phát triển sâu rộng, có sự chuyển biến rõ rệt về chất và lượng. Các cuộc đấu tranh liên tiếp nổ ra, đã đi vào tổ chức, có sự chuẩn bị, có sự lãnh đạo của tổ chức Đảng nên giành kết quả quan trọng.
Sau cao trào cách mạng 1930 - 1931, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, phong trào cách mạng cả nước tạm thời lâm vào tình thế khó khăn. Riêng ở Cao Bằng, từ năm 1930 - 1935, các cơ sở đảng vẫn tiếp tục được củng cố và phát triển, nhiều chi bộ đảng mới được thành lập như: Tháng 6/1930, Chi bộ xã Phúc Tăng (nay là xã Hồng Việt, huyện Hoà An); tháng 10/1930, Chi bộ Mỏ thiếc Tĩnh Túc và Chi bộ xã Xuân Phách, châu Hoà An (nay là phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng); tháng 6/1931, Chi bộ xã Sóc Giang (nay là xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng); tháng 7/1931, Chi bộ Gia Cung (nay thuộc phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng); ttháng 3/1932, Chi bộ Cốc Coóc, xã Lạc Giao (nay là xã Chí Thảo, huyện Quảng Hòa); tháng 02/1933, Chi bộ Phạc Sliến, xã Tung Cao (nay là xã Vân Trình, huyện Thạch An); tháng 11/1935, Chi bộ liên xã Gia Bằng - Kỳ Chỉ (nay là xã Minh Tâm, Nguyên Bình)... Như vậy từ một chi bộ đầu tiên được thành lập ngày 01/4/1930 với 3 đảng viên, đến năm 1935, trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đã phát triển thành 10 chi bộ, hoạt động ở 5 châu (Hòa An, Hà Quảng, Quảng Uyên, Thạch An, Nguyên Bình) và Mỏ thiếc Tĩnh Túc với 201/525 đảng viên, chiếm tới hơn 38% tổng số đảng viên của toàn Đảng Cộng sản Đông Dương . Sự phát triển đó đã tạo điều kiện, cơ sở vững chắc cho sự phát triển thành Đảng bộ Cao Bằng.
Năm 1933, đồng chí Lê Hồng Phong, Uỷ viên Quốc tế Cộng sản và đồng chí Hoàng Đình Giong thay mặt Ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương công nhận Đảng bộ tỉnh Cao Bằng do đồng chí Hoàng Như làm Bí thư và chỉ đạo tập trung xây dựng Cao Bằng trở thành cơ sở vững mạnh để chắp nối liên lạc với các cơ sở đảng trong nước.
Phong trào đấu tranh cách mạng của Cao Bằng từng bước phát triển, với sự ra đời của nhiều tổ chức quần chúng yêu nước như “Cộng sản đoàn”, “Công hội đỏ”, “Nông hội đỏ”... Trong thời kỳ 1930 - 1935, Cao Bằng trở thành cầu nối quan trọng giữa Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng (cơ quan có vai trò là Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng thành lập tháng 3/1934 trong những năm 1934 - 1935, trước khi Trung ương Đảng được tái lập) với phong trào cách mạng trong nước. Đồng chí Hoàng Văn Nọn, Bí thư Tỉnh uỷ Cao Bằng được chọn làm đại biểu chính thức tham gia Đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương đi dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII tại Mátxcơva (Liên Xô cũ, tháng 7/1935) và tham luận về vận động các dân tộc thiểu số ở Đông Dương tham gia cách mạng. Đồng chí Hoàng Đình Giong được bầu làm Trưởng đoàn đại biểu của Xứ uỷ Bắc Kỳ đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất tổ chức tại Ma Cao (Trung Quốc) tháng 3/1935. Tại Đại hội, đồng chí Hoàng Đình Giong được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng khóa I, phụ trách Xứ uỷ Bắc Kỳ; đồng chí Bùi Bảo Vân được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa I.
Phong trào cách mạng Cao Bằng trong những năm 1936 - 1939 phát triển mạnh mẽ, nổi bật nhất là phong trào Đông Dương Đại hội. Hầu hết các châu trong tỉnh đã tổ chức mít tinh biểu dương lực lượng, đỉnh cao là cuộc mít tinh của hơn 2.000 đại biểu đại diện cho Nhân dân đấu tranh công khai đòi quyền dân chủ, dân sinh. Cũng trong thời kỳ này, hầu hết các châu trong tỉnh có cơ sở đảng, có các chi bộ hoạt động.
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ngày 22/6/1940, Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức; tháng 9/1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương. Trước yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp cách mạng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định về nước lãnh đạo cách mạng, Cao Bằng được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đánh giá là một địa bàn chiến lược quan trọng. Tháng 10/1940, trên đường từ Quế Lâm về Nam Ninh (Trung Quốc), khi quyết định chọn Cao Bằng để về nước và xây dựng căn cứ địa cách mạng đầu tiên, Người nhận định: "Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta, Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc toàn quốc được. Có nối được phong trào với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ" . Tầm nhìn của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc lựa chọn Cao Bằng là địa bàn có ý nghĩa chiến lược, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa một địa phương với toàn quốc, giữa phong trào cách mạng một vùng với phong trào cả nước, nhận thức, đoán định được cả triển vọng và tương lai.
Ngày 28/01/1941 (ngày mùng hai Tết Tân Tỵ), Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt qua mốc 108 biên giới Việt Nam - Trung Quốc về đến Pác Bó, xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Đồng bào Pác Bó vinh dự, tự hào thay mặt Nhân dân cả nước đón Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau 30 năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, đã trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Từ đây, Pác Bó - Hà Quảng trở thành đại bản doanh của căn cứ địa Việt Bắc, trở thành chiếc nôi của cách mạng Việt Nam. Trên mảnh đất Cao Bằng lịch sử, Người đã thực hiện thành công 03 sáng lập vĩ đại đối với cách mạng và dân tộc Việt Nam .
Tại Pác Bó, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước, chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ Tám (tháng 5/1941) hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đối với cách mạng Việt Nam, thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh); các tổ chức quần chúng đều lấy tên là Hội cứu quốc (Hội Thanh niên, Hội Nhi đồng, Hội Công nhân, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân…); quyết định khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền và quyết định nhiều vấn đề quan trọng khác… Sự chuyển hướng đó đã tạo ra bước nhảy vọt của phong trào cách mạng và có tính quyết định thắng lợi đối với Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam. Đồng thời, từ cuối năm 1942, thực hiện chủ trương Nam tiến của Trung ương Đảng và Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, phong trào cách mạng từ Cao Bằng đã lan rộng ra các tỉnh, nối liền được căn cứ địa Cao Bằng với khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, mở rộng tới các tỉnh trung du và đồng bằng, gắn với phong trào cách mạng của Cao - Bắc - Lạng với phong trào toàn quốc .
Chấp hành chỉ thị của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, với sự chuẩn bị khẩn trương của Liên Tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại Khu rừng Trần Hưng Đạo (châu Nguyên Bình), gồm 34 chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Trong số 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội thì có 25 chiến sĩ là con em các dân tộc tỉnh Cao Bằng (đồng chí Xích Thắng tức Dương Mạc Thạch làm chính trị viên). Ngay sau hai ngày thành lập (ngày 25 - 26/12/1944), Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã ra quân diệt gọn 02 đồn địch (Phai Khắt, Nà Ngần). Chiến thắng Phai Khắt - Nà Ngần đã mở đầu truyền thống đánh thắng trận đầu của Quân đội ta.
Tháng 8/1945, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đảng bộ Cao Bằng đã thành lập Uỷ ban khởi nghĩa do đồng chí Hoàng Đình Giong làm Trưởng ban lãnh đạo Nhân dân chớp thời cơ, vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Đến ngày 22/8/1945, Uỷ ban nhân dân lâm thời tỉnh Cao Bằng và Thị xã họp mít tinh tuyên bố xoá bỏ chính quyền tay sai Pháp - Nhật, chấm dứt ách đô hộ gần một trăm năm của thực dân Pháp, đánh đổ chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm, xây dựng nên chế độ dân chủ nhân dân.
2. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vừa ra đời, thực dân Pháp dã tâm quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 25/11/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”.
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ đã lãnh đạo Nhân dân các dân tộc Cao Bằng tập trung sức lực đấu tranh chống âm mưu xâm lược, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, vừa chăm lo xây dựng chính quyền và đời sống Nhân dân, vừa chống thù trong giặc ngoài; kiên quyết, khôn khéo bảo vệ thành quả cách mạng, truy quét đánh đuổi thổ phỉ, tàn quân Tưởng; cùng quân dân Việt Bắc đánh thắng cuộc tấn công mùa đông của thực dân Pháp lên căn cứ địa Việt Bắc (năm 1947); chi viện cho Quân giải phóng và Nhân dân Trung Quốc giải phóng một phần lãnh thổ phía Nam.
Tháng 6/1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới. Cao Bằng được chọn làm chiến trường chính của chiến dịch. Cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên Cao Bằng để cùng Bộ chỉ huy trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Sáng 16/9/1950, quân ta nổ súng đánh đồn Đông Khê - trận đánh mở màn chiến dịch Biên giới, cũng là lúc Bác Hồ ra Sở chỉ huy tiền phương tại Nà Lạn (xã Đức Long, huyện Thạch An) trực tiếp quan sát đồn Đông Khê. Tại đây, Người đã làm bài thơ “Lên núi” nổi tiếng: "Chống gậy lên non xem trận địa/ Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây/ Quân ta khí mạnh nuốt ngưu đẩu/ Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy".
Chủ tịch Hồ Chí Minh ra trận là nguồn động viên lớn đối với quân đội và Nhân dân ta. Cả mặt trận nô nức, phấn khởi thi đua lập công, tin tưởng vào thắng lợi. Sau 29 ngày đêm chiến đấu anh dũng, chiến dịch Biên giới toàn thắng đã làm thay đổi cục diện chiến trường của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày 03/10/1950, Cao Bằng hoàn toàn giải phóng, trở thành ngày hội của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng.
Trong chiến dịch Biên giới, Đảng bộ Cao Bằng đã huy động sức người, sức của góp phần đưa chiến dịch đến toàn thắng. Chỉ tính riêng từ đầu năm 1950, Cao Bằng đã huy động tới 5.700.000 ngày công, bình quân mỗi người đóng góp 100 ngày công; chưa kể trên 20.000 nam, nữ thanh niên các dân tộc tham gia bộ đội trực tiếp chiến đấu ngoài chiến trường. Ngoài sức người, sức của, Cao Bằng cũng huy động được 325.650 đồng, 30.703 kg thóc, 1.363 kg gạo, 17.734 m vải phục vụ chiến dịch.
Sau khi Cao Bằng hoàn toàn giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng ra sức xây dựng hậu phương về mọi mặt kịp thời huy động nhân lực, vật lực phục vụ các chiến trường góp phần đưa cuộc kháng chiến đến toàn thắng. Năm 1953, tỉnh đã huy động 25.867 người, 914.958 ngày công để bảo đảm giao thông cho 181 km đường; năm 1954, toàn tỉnh huy động 35.456 người, 873.902 ngày công để sửa chữa đường, phà và phục vụ cho kế hoạch quân sự; hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm của tỉnh được chuyển ra mặt trận... Riêng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Cao Bằng đã bổ sung cho bộ đội chủ lực 844 cán bộ chiến sỹ, 1.034 người đi dân công phục vụ chiến dịch dài ngày; đóng góp gần 2.000 tấn thóc, tu sửa 800 cầu cống phục vụ chiến dịch. Góp phần quan trọng cùng Nhân dân cả nước đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (ngày 07/5/1954) kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
3. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975)
Sau thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, song từ vĩ tuyến 17 trở vào, đế quốc Mỹ đã trắng trợn xâm lược Việt Nam, dựng chính quyền tay sai ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam nước ta thành thuộc địa thực dân kiểu mới của chúng.
Thời kỳ này, cùng với cả nước, Cao Bằng cũng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược đó là: Xây dựng chủ nghĩa xã hội, cùng Nhân dân cả nước chi viện cho miền Nam đấu tranh chống Mỹ và tay sai nhằm hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đảng bộ đã vận dụng đường lối của Đảng vào điều kiện thực tế của tỉnh một cách khéo léo, phù hợp, lãnh đạo nhân dân các dân tộc đẩy mạnh công cuộc khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế - xã hội, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và thu được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng... trở thành hậu phương vững mạnh của chiến trường miền Nam.
Với tinh thần "tất cả cho tiền tuyến", "tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc Cao Bằng đóng góp sức người, sức của, góp công, dốc sức chi viện cho chiến trường miền Nam ruột thịt. Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tuổi trẻ Cao Bằng xung phong tình nguyện lên đường đi chiến đấu, luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu tuyển quân; tổ chức được 124 tổ hội mẹ chiến sĩ với 1.489 cụ tham gia. Các phong trào “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”... được phát động sâu rộng trong Nhân dân. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng vũ trang Cao Bằng vinh dự được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng nhất, 1 Huân chương Hồ Chí Minh; chỉ tính riêng 10 năm 1965 - 1975, đã có 26.862 người con của Cao Bằng nhập ngũ, trong đó có 1.494 thương binh và 5.548 liệt sỹ đã hy sinh trên các chiến trường. Tính chung, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đã có 80.165 thanh niên Cao Bằng lên đường nhập ngũ, trong đó có 3.471 thương binh và 8.326 người đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Hiện nay, toàn tỉnh đang quản lý gần 8.000 hồ sơ liệt sỹ; gần 15.000 thương, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; 3.739 cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa và người có công với nước; 415 Bà mẹ Việt Nam anh hùng cùng với trên 38.000 người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc.
4. Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới, hội nhập và phát triển (từ 1975 đến nay)
Giai đoạn 1975 - 1985, sau khi đất nước thống nhất, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đất nước thống nhất chưa được bao lâu, tháng 02/1979, chiến sự Biên giới phía Bắc nổ ra. Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc Cao Bằng anh dũng tham gia vào cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, bảo vệ một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Cuộc chiến đấu kết thúc, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Cao Bằng đã phát huy ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, vừa tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa tích cực khôi phục và phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia.
Trong suốt quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ Cao Bằng đã không ngừng vận dụng và cụ thể hoá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương; lãnh đạo nhân dân các dân tộc Cao Bằng vượt qua muôn vàn gian nan, thử thách, giành được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
15 năm đầu thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 2000), Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đã lãnh đạo Nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bối cảnh các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch ngày càng phức tạp, khó lường; tình hình kinh tế - xã hội trong nước, trong tỉnh rất khó khăn, nhất là vùng biên giới. Đảng bộ đã luôn giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, quán triệt quan điểm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; phát huy nội lực của các thành phần kinh tế để củng cố, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh.
Trong 10 năm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (2001 - 2010), Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo vận dụng sáng tạo các nghị quyết của Trung ương, tạo nên những chuyển biến đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Qua đó khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, coi trọng đầu tư cho khoa học - công nghệ, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Chú trọng phát triển văn hóa - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững. Hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền giữa Việt Nam - Trung Quốc trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, xây dựng vùng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Trong giai đoạn 2011 - 2025, tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, mở rộng hội nhập quốc tế, tạo thế và lực mới trên con đường hội nhập, phát triển. Đảng bộ tỉnh đã bám sát tình hình, tiềm năng, lợi thế, xác định rõ những khó khăn, hạn chế của tỉnh để đề ra những giải pháp, biện pháp, quyết sách đúng đắn trong phát triển kinh tế - xã hội. Tình hình chính trị luôn ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện. Khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố vững chắc. Công tác xây dựng đảng được chú trọng. Kinh tế của tỉnh phát triển ổn định. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ, giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp. Tiềm năng, thế mạnh của tỉnh từng bước được khai thác hiệu quả. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư, mở rộng, phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, điểm du lịch.
Sau gần 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh có sự chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu nổi bật. 03 chương trình trọng tâm, 03 nội dung đột phá thực hiện Nghị quyết Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh được triển khai thực hiện với nhiều chủ trương, giải pháp quyết liệt, linh hoạt, đổi mới, góp phần quan trọng thúc đẩy hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2020 - 2025. Có 13/18 chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đạt và vượt kế hoạch. Kinh tế tiếp tục phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) hằng năm luôn duy trì ở mức khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo đúng định hướng; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hạ tầng giao thông, đô thị được quan tâm đầu tư, đặc biệt là hạ tầng giao thông, nổi bật nhất là tuyến đường cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng) được đầu tư thúc đẩy mạnh mẽ đã và đang hiện hữu, khi hoàn thành sẽ là động lực lớn để bứt phá phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tiếp theo. Quy mô nền kinh tế được mở rộng: GRDP năm 2025 giá hiện hành ước đạt trên 34.000 tỉ đồng tăng gấp 1,8 lần so với năm 2020 (18.986 tỷ đồng). GRDP bình quân đầu người đạt 60 triệu đồng, đạt 100% mục tiêu Nghị quyết Đại hội, gấp 1,6 lần GRDP bình quân đầu người năm 2020 (36,5 triệu đồng), bằng 49% GDP bình quân đầu người của cả nước, bằng 78,8% GRDP bình quân đầu người khu vực Trung du Miền núi phía Bắc.
Lĩnh vực văn hóa - xã hội có bước phát triển; chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao năm sau cao hơn năm trước; tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh, an sinh xã hội được bảo đảm, diện mạo đô thị, nông thôn có nhiều thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc được nâng lên. Quốc phòng - an ninh được củng cố, tăng cường; bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ biên giới quốc gia. Các hoạt động đối ngoại tiếp tục được mở rộng và đi vào chiều sâu.
Công tác xây dựng Đảng, chính quyền và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của các cấp chính quyền được nâng lên. Tổ chức bộ máy, biên chế trong hệ thống chính trị các cấp tiếp tục được sắp xếp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả hoạt động được nâng lên. Công tác cán bộ được thực hiện đồng bộ, bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ được giao và khẳng định phẩm chất, năng lực, uy tín trong thực tiễn. Công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được hệ thống chính trị các cấp chú trọng; các nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thực hiện theo hướng có trọng tâm, trọng điểm; công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng được cán bộ, đảng viên và Nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều đổi mới, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ.
Những thắng lợi đạt được trong 95 năm qua kể từ ngày có Đảng lãnh đạo là minh chứng sinh động nhất về sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và sức mạnh to lớn của Nhân dân ta. Đây cũng là kết quả của một quá trình vận dụng sáng tạo đường lối, nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của tỉnh Cao Bằng. Đồng thời cũng là quá trình phấn đấu không mệt mỏi, khắc phục mọi khó khăn, thách thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, sự đồng thuận, hiệp lực của toàn Đảng bộ, toàn quân và toàn dân trong tỉnh.
Với những thành tích đáng tự hào trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương độc lập Hạng nhất. Toàn tỉnh hiện có 3.739 cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa và người có công với nước; có 30 con em các dân tộc Cao Bằng là cán bộ sỹ quan cao cấp của quân đội, công an được phong quân hàm cấp tướng; có 415 bà mẹ được phong tặng, truy tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng; 06 huyện, thành phố, 23 xã, 19 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang; 05 đơn vị Anh hùng Lao động và 27 cá nhân được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động. Đặc biệt, năm 2018, đồng chí Hoàng Đình Giong, người con ưu tú của quê hương cội nguồn cách mạng Cao Bằng vinh dự được Đảng và Nhà nước công nhận là lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam. Những thành tích nêu trên đã tô thắm thêm truyền thống 525 năm thành lập tỉnh Cao Bằng (1499 - 2024); truyền thống 95 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ tỉnh; là nền tảng tinh thần vững chắc để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Cao Bằng tiếp tục vững bước đi lên trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Toàn cảnh khu di tích nhìn từ trên cao.
III. PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VẺ VANG, NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUÝ BÁU, ĐẢNG BỘ CAO BẰNG ĐOÀN KẾT, SÁNG TẠO, LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC TRONG TỈNH GÓP PHẦN CÙNG CẢ NƯỚC VỮNG BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI, KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC
Trải qua 95 năm xây dựng, trưởng thành và 19 kỳ Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh , qua mỗi thời kỳ, Đảng bộ tỉnh đã luôn vận dụng đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng vào hoàn cảnh thực tiễn cụ thể của tỉnh, đề ra những nhiệm vụ, biện pháp phù hợp. Nhân dân các dân tộc trong tỉnh đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng bộ tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, không ngừng tự mình đổi mới phương thức lãnh đạo; nâng cao năng lực và chất lượng tổ chức cơ sở đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh; tích cực đấu tranh, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng; tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với Nhân dân; xây dựng Đảng bộ ngày càng trong sạch vững mạnh; đưa Cao Bằng không ngừng phát triển, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới.
Qua 95 năm xây dựng và trưởng thành, từ thực tiễn hoạt động phong phú, trong lãnh đạo, chỉ đạo, Đảng bộ tỉnh đã rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu như sau:
Một là: Đường lối chính trị đúng đắn, giữ gìn khối đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đảng bộ tỉnh nắm vững chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương.
Hai là: Quan tâm xây dựng Đảng bộ thật sự trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức. Đồng thời Đảng bộ phải không ngừng tự mình đổi mới vươn lên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng.
Ba là: Thường xuyên coi trọng bảo vệ, củng cố, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Không ngừng củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị các cấp; phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc. Tích cực phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè trong nước và quốc tế.
Bốn là: Thường xuyên coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên. Thực hiện tốt công tác chính trị tư tưởng; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng; Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Năm là: Thực hiện tốt công tác tổ chức cán bộ. Không ngừng quan tâm, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, luôn giữ vững bản chất cách mạng và tính tiên phong, gương mẫu; kiên trì xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao làm trung tâm, động lực phát triển đất nước.
Tự hào với những thành tích đã đạt được, phát huy truyền thống vẻ vang, những bài học kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng, lập thành tích thiết thực chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XX nhiệm kỳ 2025 - 2030 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trong thời gian tới, toàn Đảng bộ tỉnh tiếp tục tập trung đổi mới, sáng tạo trong phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành, thể hiện quyết tâm cao, nỗ lực lớn, để tạo chuyển biến rõ rệt hơn nữa trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, những giải pháp đột phá, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đề ra. Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Trọng tâm là:
Tiếp tục cụ thể hóa thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: Từ năm 2021 đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng phù hợp với điều kiện của tỉnh. Tập trung chỉ đạo thực hiện và phấn đấu hoàn thành 03 chương trình trọng tâm , 03 nội dung đột phá thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Tiếp tục xây dựng quy hoạch tỉnh với tầm nhìn chiến lược mới, đồng thời triển khai thực hiện các giải pháp có tính đột phá để tăng tốc, bứt phá, tạo sự khác biệt phấn đấu hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, mục tiêu giai đoạn 2020 - 2025 và giai đoạn tiếp theo. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, phát huy các tiềm năng, lợi thế của tỉnh; đẩy mạnh các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án quan trọng như: Các chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh, Chương trình trọng tâm phát triển kinh tế cửa khẩu giai đoạn 2025 - 2030. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành, khai thác hiệu quả tuyến đường bộ cao tốc Đồng Đăng (tỉnh Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (tỉnh Cao Bằng) và phát triển khu kinh tế cửa khẩu.
Thực hiện chuyển đổi số đồng bộ, toàn diện trên 03 trụ cột là chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, triển khai giải pháp nâng cao chỉ số chuyển đổi số của tỉnh. Tăng cường liên kết, hợp tác, hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, huy động, quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, thị trường khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy phục vụ hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc làm nền tảng.
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, giáo dục STEM trên nền tảng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tiếp tục xây dựng và phát triển văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng con người Cao Bằng phát triển toàn diện, có nhân cách, lối sống đẹp, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển tri thức với phát triển thể chất, đạo đức và kỹ năng xã hội. Chú trọng giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, văn hóa truyền thống các vùng, miền trong tỉnh. Tăng cường đầu tư hoàn thiện đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao từ tỉnh đến cơ sở.
Tiếp tục phát triển mạnh mẽ phong trào thể dục thể thao quần chúng, tạo điều kiện nâng cao thể lực, trí lực Nhân dân; nâng cao chất lượng đào tạo thể thao thành tích cao, nhất là tập trung đào tạo những môn thể thao tỉnh có thế mạnh.
Củng cố, nâng cấp, mở rộng hệ thống, quy mô các cơ sở y tế công lập hiện có; kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa y học hiện đại và y học cố truyền trong khám và điều trị. Nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát, phòng chống dịch bệnh; chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân.
Triển khai hiệu quả các chương trình, chính sách giảm nghèo, dân tộc, tôn giáo, bảo đảm an sinh xã hội; đấu tranh chống mọi âm mưu lợi dụng, tôn giáo, nhân quyền để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, tích cực chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân và đối ngoại của các ngành, lĩnh vực. Tiếp tục triển khai có hiệu quả các văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc. Triển khai thực hiện có hiệu quả các Hiệp định, thỏa thuận đã ký kết với phía Trung Quốc và các đối tác nước ngoài. Tập trung các giải pháp thực hiện nội dung đột phá về phát triển du lịch, nhất là phối hợp với phía Trung Quốc vận hành đón khách du lịch tham quan khu cảnh quan theo Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc (Việt Nam) - Đức Thiên (Trung Quốc). Phát triển đa dạng các loại hình, sản phẩm du lịch độc đáo gắn với bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới và phát huy giá trị các di tích, danh thắng, mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống đặc trưng của tỉnh. Tổ chức các hoạt động, sự kiện văn hoá, thể thao, du lịch với quy mô và chất lượng, quảng bá, lan toả rộng rãi nét độc đáo, đặc trưng về bản sắc văn hoá, vùng đất, con người Cao Bằng tới người dân và du khách trong nước, quốc tế.
Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong Nhân dân. Tăng cường đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác chính trị, tư tưởng, giáo dục lý luận chính trị, đáp ứng yêu cầu nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng bộ và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; tuyên truyền, quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng; việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị và thực hiện nghiêm quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Tiếp tục tổ chức tốt các đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung các tác phẩm của đồng chí cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Tô Lâm, tạo sự đồng thuận trong nhận thức về những vấn đề mới của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Tiếp tục thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới, sắp xếp, kiện toàn các tổ chức của hệ thống chính trị bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Tiếp tục củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng.
Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tăng cường và phát huy hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kịp thời nhận diện, phát hiện và đấu tranh ngăn chặn, đấu tranh phản bác kịp thời các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh về mọi mặt; không ngừng củng cố, giữ vững niềm tin của các tầng lớp Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
*
Kỷ niệm 95 năm thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh (01/4/1930 - 01/4/2025) là dịp để Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng ôn lại truyền thống lịch sử hào hùng; bày tỏ sự tri ân đối với những đóng góp, cống hiến và hy sinh của các thế hệ cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong tỉnh qua các thời kỳ cách mạng. Qua đó, càng nhận thức sâu sắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, sức mạnh to lớn, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong hòa bình, đổi mới, xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Tự hào về Đảng quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Cao Bằng càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, nguyện tiến bước theo Đảng; xây dựng Đảng bộ Cao Bằng ngày càng trong sạch, vững mạnh, tiếp tục lãnh đạo Nhân dân các dân tộc trong tỉnh đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; quyết tâm xây dựng tỉnh Cao Bằng trở thành tỉnh “gương mẫu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, góp phần xây dựng Cao Bằng phát triển bền vững, cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.