Những điểm mới của Luật An toàn Vệ sinh lao động

Đăng lúc: Thứ tư - 10/08/2016 06:04 - Người đăng bài viết: Văn phòng LĐLĐ
Luật An toàn Vệ sinh lao động (ATVSLĐ) đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9, khóa XIII và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016. Luật gồm 7 chương, 94 điều, trong đó có quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động và quản lý Nhà nước liên quan đến công tác ATVSLĐ đã kế thừa và được phát triển với nhiều nội dung mới so với những quy định tại các Nghị định của Chính phủ, Bộ Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội ban hành trước đây.

    Ảnh minh họa: Quy định và khuyến khích doanh nghiệp thực hiện các biện pháp đánh giá,
               phòng ngừa rủi ro, cải thiện điều kiện lao động và xây dựng văn hoá an toàn
     Điểm mới đầu tiên là về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. So với quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Bộ luật lao động năm 2012, Luật quy định rộng hơn, bao quát hơn và cụ thể hơn các hoạt động về ATVSLĐ. Công tác ATVSLĐ liên quan đến tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động lao động, sản xuất. Chính vì vậy, đối tượng áp dụng của Luật ATVSLĐ là người lao động đang có việc làm bao gồm cả người lao động có quan hệ lao động được quy định tại Bộ luật lao động (thể hiện qua hợp đồng lao động), cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, người lao động không có hợp đồng lao động, người sử dụng lao động và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến công tác ATVSLĐ.
Về thanh tra chuyên ngành ATVSLĐ, Luật ATVSLĐ đã qui định cụ thể: “Thanh tra ATVSLĐ là thanh tra chuyên ngành” và được tổ chức ở cấp trung ương và cấp tỉnh. Việc thanh tra ATVSLĐ trong các lĩnh vực phóng xạ, thăm dò, khai thác dầu khí, các phương tiện vận tải đường sắt, đường thủy, đường bộ, đường hàng không và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân do các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó thực hiện với sự phối hợp của thanh tra ATVSLĐ
     Một điểm mới đáng chú ý khác là về phòng ngừa và giảm thiểu tổn thất do tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Cụ thể, Luật đã có các qui định cụ thể và khuyến khích doanh nghiệp thực hiện các biện pháp đánh giá, phòng ngừa rủi ro, cải thiện điều kiện lao động và xây dựng văn hóa an toàn lao động tại nơi làm việc. Phương châm đảm bảo ATVSLĐ là các giải pháp phòng ngừa ít tốn kém hơn nhiều so với giải quyết hậu quả, xây dựng văn hóa an toàn tại doanh nghiệp cần nhấn mạnh hơn nhiều so với việc kêu gọi hỗ trợ nạn nhân khi tai nạn, bệnh nghề nghiệp xảy ra. Những điều này đòi hỏi cần tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện để nâng cao nhận thức cho người lao động.   

Ảnh minh hoạ: Nhà nước hỗ trợ huấn luyện ATVSLĐ cho người làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ.
     Một số chế độ cụ thể được quy định tại Luật ATVSLĐ: 
     Đối với điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động, giữ nguyên 3 trường hợp đủ điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động nhưng bổ sung, diễn giải chi tiết và thực hiện luật hóa một số nội dung tại 02 trường hợp bị tai nạn tại nơi làm việc, trong giờ làm việc và trường hợp bị tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động. Theo đó, trường hợp bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc bao gồm cả khi người lao động đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật Lao động, nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, như nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh. Đồng thời bổ sung điều khoản quy định trường hợp người lao động không được hưởng chế độ do Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi trả nếu bị tai nạn do một trong các nguyên nhân: do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động; do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân; do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật. Đây là một trong những nội dung bổ sung cơ bản quy định về điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động. Theo quy định hiện hành, điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động là bị tai nạn tại nơi làm việc, trong giờ làm việc hoặc ngoài nơi làm việc, ngoài giờ làm việc khi được sự phân công của người sử dụng lao động, không quy định điều kiện loại trừ nên trong một số trường hợp đã gây ra những tồn tại, vướng mắc trong quá trình giải quyết. Quy định mới đã liệt kê cụ thể những trường hợp không được hưởng chế độ tai nạn lao động, bảo đảm cho công tác tổ chức thực hiện hạn chế vướng mắc, đồng thời, bảo đảm tính công bằng cho đối tượng hưởng chế độ.
     Đối với chế độ bệnh nghề nghiệp, bổ sung thêm quy định trường hợp người lao động khi đã nghỉ hưu hoặc không còn làm việc trong các ngành, nghề, công việc có nguy cơ bị bệnh nghề nghiệp thuộc danh mục do Bộ Y tế và Bộ LĐ-TB&XH ban hành mà phát hiện bị bệnh nghề nghiệp, thì việc giám định và giải quyết chế độ theo quy định của Chính phủ. Cơ quan ban hành điều kiện về bị bệnh nghề nghiệp thuộc danh mục được sửa đổi giao cho Bộ Y tế (sau khi lấy ý kiến từ Bộ LĐ-TB&XH, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diện người sử dụng lao động) thay cho quy định hiện hành là Bộ Y tế, Bộ LĐ-TB&XH cùng ban hành.
     Về nội dung giám định thương tật, bổ sung quy định đối với trường hợp thương tật hoặc bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định, theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế, người lao động được làm thủ tục giám định ngay trong quy trình điều trị hoặc không cần gửi đi điều trị trước khi giám định. Bổ sung quy định thời hạn trường hợp sau khi thương tật, bệnh tật tái phát, người lao động được giám định lại tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là sau 24 tháng kể từ ngày người lao động được Hội đồng Giám định y khoa kết luận tỷ lệ suy giảm khả năng lao động, bệnh nghề nghiệp liền kề trước đó. Về trợ cấp phục vụ sửa đổi điều kiện bị suy giảm 81% trở lên mà “không tự phục vụ được bản thân” thay cho quy định hiện hành là liệt kê các trường hợp cụ thể.
     Về dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nội dung sửa đổi cơ bản là điều chỉnh thống nhất mức hưởng cho 1 ngày bằng 30% mức lương cơ sở và chỉ áp dụng một hình thức nghỉ dưỡng sức, thay cho quy định hiện hành (có 2 hình thức nghỉ tại nhà, bằng 25% và nghỉ tập trung, bằng 40% mức lương cơ sở) tính cho một ngày để phù hợp với chế độ dưỡng sức sau ốm đau, thai sản được quy định tại Luật BHXH (sửa đổi). Ngoài ra, thiết kế tại Luật nội dung quy định số ngày nghỉ tối đa từ 5 - 10 ngày đối với từng trường hợp, tùy thuộc vào mức suy giảm khả năng lao động; theo Luật hiện hành, quy định tại các Nghị định, Thông tư hướng dẫn và quy định thời gian nghỉ dưỡng sức trong 30 ngày đầu làm việc sau khi điều trị thương tật, bệnh tật mà sức khỏe còn yếu.

   Ảnh minh hoạ: Luật cũng quy định việc tham gia bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện
                       của người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động.
     Đặc biệt, thủ tục, hồ sơ giải quyết hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tại Luật ATVSLĐ đã có sự thay đổi đáng kể: Loại bỏ thành phần hồ sơ theo quy định hiện hành đã phát sinh rất nhiều vướng mắc trong quá trình giải quyết, đó là biên bản điều tra tai nạn lao động trong giải quyết hưởng chế độ tai nạn lao động và biên bản đo đạc môi trường có yếu tố độc hại. Việc loại bỏ các thành phần hồ sơ nêu trên đáp ứng yêu cầu cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính; quá trình thực hiện giải quyết chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, vì vậy, sẽ đơn giản, nhanh gọn, hạn chế tối đa vướng mắc so với hiện hành và giảm bớt trách nhiệm của cơ quan BHXH trong thực hiện thẩm định hồ sơ, xét duyệt hưởng chế độ. Tuy nhiên, để phòng, tránh lạm dụng, đòi hỏi phải có những quy định ràng buộc trách nhiệm của người sử dụng lao động khi đề nghị giải quyết chế độ cho người lao động; nền tảng, cơ sở hạ tầng của việc lưu trữ hồ sơ, cơ sở dữ liệu gốc đối với từng đơn vị sử dụng lao động, cũng như các cơ quan có thẩm quyền liên quan, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch hóa và thuận tiện khai thác khi có yêu cầu.
     Đối với người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động có chính sách thông tin, tuyên truyền, giáo dục về ATVSLĐ; Nhà nước hỗ trợ huấn luyện ATVSLĐ cho người làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ; thống kê, báo cáo, điều tra về tai nạn lao động; bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện.
     Nếu như trước đây, Bộ Luật Lao động chỉ quy định về nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, thì trong Luật ATVSLĐ người lao động và sử dụng lao động đã có thêm các quyền cụ thể. Đồng thời Luật cũng đã quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn, Hội Nông dân Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác. Luật ATVSLĐ đầu tiên của Nhà nước ta sẽ đem lại hiệu quả to lớn trong việc bảo vệ sức khỏe người lao động trong các hoạt động sản xuất kinh doanh làm ra của cải vật chất cho xã hội.
     Chính phủ đã ban hành một số nghị định hướng dẫn thực hiện Luật ATVSLĐ, cụ thể:
     - Nghị định số 39/2016/NĐ-CP, ngày 15/5/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật ATVSLĐ.
     - Nghị định số 37/2016/N-CP, ngày 15/5/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật ATVSLĐ về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc.
    - Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật ATVSLĐ về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện ATVSLĐ.
Tác giả bài viết: Hoàng Anh - Công đoàn ngành Công thương
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc